|
Khi Khai quốc Trấn Công Nghị Võ
Cửu Lộc Hầu Mạc Cửu nhận lệnh
chúa Nguyễn đến trấn nhậm vùng
Hà Tiên, có một vị đạo sĩ pháp
hiệu là Huỳnh Phong Chơn Nhơn từ
Thanh Hóa vào vùng đất còn hoang
sơ này tìm nơi tu luyện. Sau một
thời gian tìm kiếm và phát hiện
được một hang động thích hợp,
Huỳnh Phong Chơn Nhơn vào ẩn
thân để chuyên tu pháp môn Thiền
định. Trong suốt thời gian ẩn tu,
Ngài đã liễu ngộ được thật tướng
của các pháp nên đổi pháp hiệu
là Huỳnh Phong Hòa thượng. Với
hạnh nguyện “Tác Phong Như Xứ,
Hành Như Lai Sự”, Ngài vân du
khắp nơi hóa độ chúng sanh. Ngài
thị tịch vào năm 1785, thọ 108
tuổi. Nhục thân Ngài được nhập
tháp do Đề đốc trấn nhậm Bát
Giác sơn là Đỗ Như Liêm cùng một
số tín đồ xây dựng.
Đến năm 1790, Hòa thượng Minh
Đường là một vị Thiền sư Trung
Hoa tìm đến hang động của Huỳnh
Phong Hòa thượng để tu hành và
đặt tên hiệu cho hang động này
là Bạch Vân Am. Tuy nhiên, một
thời gian sau đó, do tuổi cao
sức yếu, không thể trụ trong
hang được lâu nên Hòa thượng
Minh Đường giao Bạch Vân Am lại
cho đệ tử là Bạch Y Cư sĩ để
chuyển ra ngoài tìm một chỗ tu
khác. Khi đó, cách Bạch Vân Am
800 mét về hướng Đông Nam, dưới
chân núi Địa Tạng đã có ngôi đền
thờ Địa Tạng Vương nên Hòa
thượng Minh Đường dời đến tu tại
đó và đặt lại tên hiệu của Địa
Tạng Vương điện thành chùa Địa
Tạng. Ngài thị tịch tại đây vào
năm 1804, thọ 94 tuổi. Nhục thân
của Ngài được đệ tử nhập tháp
cách chùa Địa Tạng 45 mét về
phía Bắc. Cũng kể từ đó, người
ta không nghe nói gì về Bạch Y
Cư sĩ, người thay thế Sư phụ
trông coi Bạch Vân Am.
Gần một thế kỷ sau đó, Bạch Vân
Am không người nối truyền. Đến
năm 1888, một nhóm người Minh
Hương có thành tâm đến chỉnh
trang lại những thánh tích của
các chư Thánh tăng đã an thân
thị tịch tại đây. Hai năm sau,
sau khi đã chỉnh trang lại Bạch
Vân Am, nhóm người này cung
thỉnh Hòa thượng Chánh Quả (thế
danh Lê Thế Diên) về trụ trì.
Ngài sinh năm 1841 tại thôn
Trung An, tồng Trung An, huyện
Bồng Sơn, phủ Hoài Nhân, tỉnh
Bình Định (nay thuộc huyện Hoài
Nhân, tỉnh Bình Định), thuộc
dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ
39. Sau khi về trụ trì, Hòa
thượng Chánh Quả cho đúc vài
tượng Phật và Bồ Tát và trong
ngày lễ An vị, Ngài cho đổi tên
hiệu Bạch Vân Am thành Linh Sơn
Tự. Sau hơn 20 năm trụ trì, năm
1913, Hòa thượng Chánh Quả viên
tịch, thọ 72 tuổi. Nhục thân của
Ngài nhập tháp tại góc núi chùa
Linh Sơn.
Kế thế trụ trì là Hòa thượng
Thiện Sĩ (thế danh Trịnh Tấn
Tước) thuộc dòng Lâm Tế chánh
tông đời thứ 40 là người cùng
trụ tu với Hòa thượng Chánh Quả
tại chùa Linh Sơn từ năm 1902.
Sinh năm 1870 tại thôn Tân Thạnh,
tổng Sơn Đài, huyện Đồng Xuân,
phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên (nay
thuộc thị trấn Trí Thạnh, huyện
Tuy An, Phú Yên), Hòa thượng
Thiện Sĩ vốn xuất thân từ nghề
thợ mộc nên trong thời gian trụ
trì hơn 30 năm tại chùa Linh Sơn,
Ngài đã tự tay đục khoét hang
nới rộng thêm diện tích và sửa
sang lại ngôi Tam Bảo đồng thời
đặt lại tên hiệu của chùa là
chùa Tiên Sơn cho đến nay. Ngoài
ra, Ngài còn cho khai mở đất
hoang gần đó trồng hoa màu và
nhiều loại cây ăn trái. Năm Ất
Dậu 1945, Ngài thâu thần thị
tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Mộ phần
của Ngài được tôn tạo bên cạnh
mộ của Hòa thượng Chánh Quả.
Trông coi việc Phật sự chùa Tiên
Sơn sau khi Hòa thượng Thiện Sĩ
viên tịch là Phật tử Hồng Liên (thế
danh Cam Thị Nam, dân địa phương
còn gọi là cô Hai Nàm). Vốn là
người Việt gốc Hoa, bà Cam Thị
Nam sinh năm 1896 tại Sóc Trăng,
năm 1942, bà thọ giới với Hòa
thượng Thiện Sĩ. Khi cuộc kháng
chiến chống Pháp tại Nam bộ bùng
nổ, bà Cam Thị Nam bí mật tham
gia hoạt động cách mạng, che
giấu cán bộ trong vùng địch tạm
chiếm. Ngày 29.04.1948, hoạt
động của bà bị phát hiện, giặc
Pháp đem bà ra tử hình tại bến
Cầu, chợ cá Hà Tiên và xác của
bà bị chúng thả trôi sông. Bà
trụ thế 52 tuổi.
Sau khi bà Cam Thị Nam bị giặc
hành hình, suốt hơn 4 năm sau đó,
không ai dám lai vảng đến chùa
Tiên Sơn. Mãi đến năm 1952, Phật
tử Hồng Phúc (thế danh Trình Kim
Huê) là đệ tử của Hòa thượng
Thiện Sĩ, đã đến giữ gìn ngôi
Tiên Sơn. Tuy nhiên, chỉ 7 năm
sau, ông rời chùa Tiên Sơn trở
về cuộc sống đời thường và qua
đời năm 1968, hưởng thọ 84 tuổi.
Suốt gần 20 năm sau, chùa Tiên
Sơn vắng bóng người chăm lo
hương khói. Năm 1979, sau cuộc
chiến tranh biên giới Tây Nam,
Phật tử Thiện Thành (thế danh
Tiết Văn Lương) người làng Mỹ
Đức, Hà Tiên mặc dù đã 75 tuổi
nhưng không quản ngại gian lao
đã đến trực tiếp chăm nom chùa
Tiên Sơn. Mười năm sau (1989),
do tuổi già sức yếu nên ông đã
cùng Phật tử địa phương cung
thỉnh Đại đức Thích Minh Luận (thế
danh Giang Văn Khép) về trụ trì
chùa Tiên Sơn. Năm sau, cụ lâm
trọng bệnh và qua đời ngày
9.6.1990, thọ 86 tuổi.
Sinh năm 1960 tại thị trấn Hà
Tiên trong môt gia đình nông dân
sùng tín Phật pháp, năm 17 tuổi,
Đại đức Minh Luận xuất gia tại
chùa Bửu Sơn (Hòn Đất) thuộc hệ
phái Khất sĩ với Thượng tọa
Thích Giác Hòa, được đặt pháp
danh là Huệ Lực và thọ Tỳ kheo
năm 1981 tại chùa Long Hoa (Long
Đất, Đồng Nai). Năm 1982, thầy
chuyển sang hệ phái Bắc Tông,
đổi pháp danh là Thích Minh Luận
và tu học tại chùa Phù Dung với
Thượng tọa Nhựt Quang. Ngay sau
khi về trụ trì chùa Tiên Sơn,
Đại đức Minh Luận bắt đầu cho
trùng tu ngôi chùa để nơi đây
trở thành một danh lam thắng
cảnh như cho xây dựng hàng lan
can và các bậc tam cấp, an vị
tượng Đức Bổn Sư trên gác điện.
Năm 1991 một tượng đài Quan Âm
được đặt trước cửa hang. Năm
1995, sửa chữa và lót gạch toàn
bộ ngôi chánh điện. Khuôn viên
chùa được tạo một cảnh quan cây
xanh. Năm 1997, Đại đức Minh
Luận khởi công xây dựng Tăng xá
để chư tăng các nơi dừng chân
nghĩ ngơi và trong một tương lai
gần, các công trình Phật sự chùa
Tiên Sơn sẽ được trùng tu lại
như: Giảng đường, Tổ đường và
nhà từ thiện.

Chùa
Tiên Sơn nằm trong lòng của
thắng cảnh Thạch Động thôn vân -
một trong 10 thắng cảnh nổi
tiếng của TX. Hà Tiên (Kiên
Giang)
Khu di tích danh lam thắng cảnh
Thạch Động với truyền thuyết
Thạch Sanh - Lý Thông là phương
hướng sắp tới của thầy trụ trì
là sẽ giữ gìn, tôn tạo để giới
thiệu với du khách thập phương.
Trong “Hà Tiên thập cảnh”, thi
sĩ Đông Hồ viết về hang động này
: “Truyền rằng, trong động có
một miệng hang ; nhìn vào thăm
thẳm, không biết thông đến đâu.
Bao nhiêu người hiếu kỳ thám địa
huyệt, đi xuống đó, đều không
trở lên được. Có người lấy trái
dừa khô, khắc chữ làm dấu, ném
xuống hang, thì, ít lâu sau, có
người đi thuyền gặp trái dừa đó
trôi ở mặt biển. Muốn nói là
hang đó có lối thông ra biển”.
Trong “Hà Tiên thập cảnh ngâm
khúc”, Mạc Thiên Tích có bài
“Thạch Động thôn vân” (Động đá
nuốt mây) ca ngợi nét đẹp của
thắng cảnh này :
Qui trổ thần xoi nổi một tòa
Chòm cây khóm đá dấu tiên gia
Hang sâu hẳm hẳm mây vun lại
Cửa rộng thinh thinh gió thổi
qua
Trống rỗng bốn bề thâu thế giới
Chang bang một đãy chứa yên hà
Chơn trời mới biết kho trời đấy
Cân đái hèn chi rỡ ỷ la. |