|
Núi Cấm/Cấm Sơn là tên gọi chính
thức bằng văn tự đầu tiên xuất
hiện trong Đại Nam nhất thống
chí (ĐNNTC, biên soạn vào cuối
thế kỷ XIX). Còn trước đó, ngọn
núi này được gọi là núi Đoài Tốn
(Gia Định thành thông chí, biên
soạn đầu thế kỷ XIX). Ở ĐNNTC,
núi Cấm được khảo tả rằng: “…
thế núi cao ngất, cây cối tươi
tốt, là một trong Bảy Núi. Vì
núi cao nên ít người lên đến
chót”. Cái danh xưng Bảy Núi có
lẽ cũng xuất hiện trong ĐNNTC là
chứng cứ văn liệu đầu tiên.

1. Quay lại buổi đầu khai hoang, năm 1757, Nguyễn
Cư Trinh - người đứng đầu công
cuộc bình trị vùng đất mới
phương Nam đã đề đạt lập 3 cứ
điểm quan yếu án ngữ đầu nguồn
sông Hậu và sông Tiền: đạo Châu
Đốc, đạo Tân Châu và đạo Đông
Khẩu (Sa Đéc). Đó là tên gọi
“hành chính”, còn đối với lưu
dân thì vùng đất này được gọi là
“Châu Đốc tân cương”, “Tân Châu
ác địa”… bởi thời ấy đây là vùng
đất úng thủy, hàng năm bị nước
lũ từ Biển Hồ đổ tràn xuống.
Đồng hoang đầy rắn và chuột, núi
rừng lắm cọp beo, rắn rít và
dưới sông sấu lội lềnh khênh.
Mặt khác, nơi này còn là nơi
binh lửa, chưa ổn định như Đồng
Nai - Gia Định, chưa là xứ… “Tây
An” như sau này, chưa được Thoại
Ngọc Hầu đào kinh xẻ rạch nối
thông qua Rạch Giá (kinh Thoại
Hà), qua Đông Hồ, Hà Tiên (kinh
Vĩnh Tế)…
Khi công cuộc khai phá đạt được kết quả ít nhiều
thì thực dân Pháp xâm lược. Ba
tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền
Tây lần lượt lọt vào tay giặc.
Các cuộc khởi nghĩa kháng Pháp
dưới ngọn cờ yêu nước của sĩ phu
lần lượt bị dập tắt. Đặc điểm
nổi bật của những năm cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX là nghĩa
quân thất trận, nông dân mất
ruộng và cơ cấu văn xã truyền
thống đứng trước những thách
thức lớn lao của sự đổi thay.
Hạ ngươn Giáp Tý đầu niên,
Gẫm trong thiên hạ: không yên
chỗ nào.
(Vãn, Sư Vãi Bán Khoai)
Thực tế lịch sử đầy bi phẫn bấy giờ, dưới cái
nhìn chuyển kiếp của nhà Phật…
quả là thời mạt pháp, hay dưới
cái nhìn biến dịch của Nho đạo
thì hẳn đó là thời hạ ngươn (hạ
nguyên). Những tín điều của dòng
phái tiên tri Bửu Sơn Kỳ Hương
được rao truyền từ thời Phật
thầy Tây An… đã ứng nghiệm nhãn
tiền, nên tự nó trở nên xu hướng
thời thượng của thời buổi mọi
con đường sáng đều bế tắc.
2. Núi Cấm có tên gọi khác là “Thiên Cẩm sơn” bởi
cảnh sắc hoa cỏ, cây lá đẹp như
dải gấm của trời. Đây là cách
đặt tên hoa mỹ dưới cái nhìn thi
vị hóa của các văn nhân và tuy
cũng được thế nhân tán đồng,
nhưng tên gọi phổ biến vẫn là
núi Câm, được hiểu là “vùng cấm
người lai vãng”, với nhiều lý
giải suy nguyên khác nhau: hoặc
đẩy về thời chiến tranh Tây Sơn
- Nguyễn Ánh hoặc thời Pháp
thuộc. Song điều có thể dễ dàng
nhận ra việc gọi núi Cấm là bắt
nguồn tư nếp tư duy truyền thống
về việc định danh các ngọn núi
thiêng được coi là trục thiêng
trung tâm của cộng đồng, là Cấm
Sơn/Núi Cấm. Đây là một tập quán
phổ biến từ lâu đời mà núi Nghĩa
Lĩnh (nơi đặt đền thờ các Vua
Hùng) ơ vùng đất Tổ Phú Thọ là
một ví dụ. Ba đỉnh núi thiêng
này được gọi là núi Cấm: Tam Sơn
cấm địa.
Ở đây, chí ít là đến nửa sau thế
kỷ XIX, Bảy Núi đã được các tín
đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tôn xưng là
Bửu Sơn. Theo đó, núi Cấm, ngọn
núi cao nhất trong Thất Sơn,
được xác tín là địa điểm Phật Di
Lặc mở Hội Long Hoa, cuộc phán
xét cuối cùng, kết thúc thời hạ
ngươn/mạt pháp và khai mở kiếp
đời thượng ngươn mới hạnh phúc
và an lạc. Dấu hiệu chỉ báo là
đến lúc đó, từ núi báu (Bửu sơn)
sẽ tỏa ra mùi hương thơm kỳ diệu
(Kỳ hương).
Về mặt tự nhiên, cứ như ghi chép
của tác giả Gia Định thành thông
chí, thì núi cao 50 trượng, chu
vi 20 dặm dư (số đo thực: cao
705m), “hình như cai đài cao,
nghiễm nhiên ở về cung Thìn Tỵ
nên gọi là núi Đài Tốn… Núi cao
đột ngột, sinh sản các loài trầm
hương, tốc hương, súc sa, cây
sao, giáng hương, thông tre. Cây
cối tốt tươi có đường cong queo
thông trong núi sâu, dấu người
qua lại, gần nơi đồng ruộng, xa
có bến nước, kẻ cày cấy, người
đánh cá chia từng loại ở nơi
chân núi”. Đoạn trích dẫn trên
cho ta thấy hình tướng lẫn hương
vị của ngọn núi thiêng. Người
đời sau kể rằng trên núi có suối
Thanh Long nằm vắt qua điện Cây
Quế. Điện không có cây quế nào
mà được gọi tên như vậy vì ở đó
luôn phảng phất mùi trầm lẫn
trong gió. Người ta đoán rằng có
trầm hương trong núi nhưng chẳng
ai xeo đá, nổ mìn để tìm vì làm
như vậy là cắt đứt sinh lực của
núi Cấm là suối Thanh Long.
Lại nữa, tại đoạn trích dẫn trên,
chúng ta được biết đường đi cong
queo “thông vào núi sâu”, song
lại không nói đặc điểm quan
trọng của núi Cấm là các vồ đá:
vồ Chư Thần, vồ Bồ Hong, vồ Ông
Bướm, vồ Đầu, vồ Thiên Tuế… Đó
là những địa điểm thiêng thờ tự
Thần Phật và là nơi ẩn tu của
các ông Đạo tu hành đắc đạo,
hành tung bí mật, có phép thần
thông và y thuật. Ông Cử Đa là
một kỳ nhân tiêu biểu.
Lại nữa, ngọn núi này được xác
tín là cõi thanh tịnh của các
bậc tu hành chứng quả Phật, Tiên,
Thần, Thánh nên ngay cả hổ báo
cũng chỉ ăn hoa quả, tuyệt đối
không sát sinh, không ăn thịt
người. Loài ham ăn thịt người
phải tìm nơi khác, như núi Bà
Đội Om, để cư trú.
Nói tóm lại, núi Cấm một phần là
do đặc điểm cùng vị thế tự nhiên
của nó và phần nữa là do những
nhân duyên và hệ lụy của lịch sử
nên đã trở thành căn cứ-thánh
địa cua những kỳ nhân nặng lòng
với đạo với đời, trong thời kỳ
đau thương của dân tộc.
3. Thực dân Pháp chiếm An Giang
ngày 22-6-1867. Người đứng ra
khẳng khái nêu tuyên ngôn:
Thà thua xuống láng xuống bưng,
Chứ không đầu giặc lối chưng
quân thần
à Đức cố quản Trần Văn Thành - một vị võ quan và
đồng thời là cao đồ của Phật
Thầy Tây An (người sáng lập ra
đạo Bửu Sơn Kỳ Hương). Căn cứ
Láng Linh (Bảy Thưa) của Trần
Văn Thành vốn là một xóm đạo Bửu
Sơn Kỳ Hương và lực lượng nghĩa
quân dưới cờ của ông không ít là
tín đồ của dòng phái tôn giáo
cứu thế này - tức có quan hệ với
một mạng lưới gồm các cộng đồng
đồng đạo khác: Thới Sơn, Nhơn
Hưng (Tịnh Biên), Cái Dầu (Châu
Phu), Trà Bang (Rạch Giá), Tân
Thành (Đồng Tháp)…
Giáo thuyết của các cộng đồng
này đặt nền tảng trên một mạt
thế luận với kỳ vọng rằng Hội
Long Hoa sắp khai mở ở Núi Cấm,
giờ đây trong thực tế thì Hội
Long Hoa là ngày đất nước Nam
giành lấy chủ quyền độc lập,
kiếp đời thượng ngươn mới là đất
nước thanh bình, thịnh vượng.
Đây là hai mặt lý-sự củng cố
niềm tin, thúc đẩy các tín đồ
các phong trào tôn giáo cứu thế
nhiệt tình đứng lên chống Phap
và nung nấu tâm can mãi đến sau
này mặc cho giặc dìm tất cả các
cuộc nổi dậy vào máu, triệt hạ
tất cả làng mạc, phân tán các
tín đồ ra khỏi các làng mạc mang
tính “xóm đạo” và liên tục bủa
mật thám theo dõi, bắt bớ những
người mà chúng tình nghi có quan
hệ với các ông đạo ở vùng “năm
non bảy núi”, nhất là sau hai
cuộc nổi dậy đánh chiếm Khám Lớn
Sài Gòn năm 1913 và năm 1916.
4. Theo bài viết “Đức Trung Tôn trên núi Cấm (Châu
Đốc) hết cái nạn dầm mưa dang
nắng” trên báo Từ Bi Âm (số 92,
15 Oct., 1935) thì chùa Phật Lớn
do ông Bảy Do tạo dựng: “Nguyên
thuở trước, ước chừng ba bốn
chục năm nay, có một ông thầy tu
theo đạo trên, tên là Bảy Do,
lên choán chỗ đó ma cất một cảnh
chùa bằng ngói rất nguy nga.
Trong chùa ấy, ông lại mướn thợ
lên cốt một vị Phật bằng ciment
rất to, tục kêu “Đức Trung Tôn”,
bề cao được một thước tám tây,
ngồi kiết già trên cái bàn cũng
bằng ciment và cao trên hai
thước. Chùa vừa cất xong thì ông
Bảy Do lại bị ở tù, kế từ trần
trong ngục thất…”.
Ông Bảy Do, tên thật là Cao Văn
Long, quê ở Bến Tre. Ông là một
trong những người lãnh đạo cuộc
nổi dậy đánh chiếm Khám Lớn Sài
Gòn năm 1916. Trước đó, ông
thường lui tới hầu hết các tỉnh
Nam Kỳ và đến núi Cấm xây chùa
năm 1912, lấy đó làm trụ sở cho
hội kín Thiên Địa hội. Ông bị
giặc bắt ngày 17-3-1917 (Theo
G.Coulet: Les sociétés secrètes
en terre d’Annam. S, Ardrin,
1926). Giặc xua lính lùng sục
núi Cấm và chùa Phật Lớn chẳng
tìm được tang chứng gì, ngoài
một số lượng lớn chén bát. Chúng
dựa vào mớ chén bát đó để qui
tội ông làm quốc sự…
Chùa Phật Lớn, sau khi Bảy Do bị
giăc bắt, trở nên hoang tàn.
Người có tâm đạo lấy cây làm cái
trại lá để tạm che mưa nắng cho
Phật tượng bởi họ nhiều lần xin
phép cất cái trại thì nhà cầm
quyền thời đó cũng nhất quyết
không cho. Mãi đến năm 1914, ông
Trần Văn Lầu (cựu Hương quản
làng An Khánh, tổng Hòa Quới,
quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho) đến
núi Cấm thấy cảnh chùa hoang phế
bèn lên chùa Linh Sơn (Sài Gòn)
nhờ Cò mi Chấn (Phó nhì Hội
trưởng Hội Nam Kỳ Nghiên cứu
Phật học) đứng ra xin phép tái
thiết chùa Phật Lớn. Cò mi Chấn
tính đủ cách cũng không được cấp
phép làm lại chùa nên cuối cùng,
ông bảo ông Lầu dỡ trại, cất
liều cái am lợp lá. Lại có kẻ
cáo quan chủ tỉnh. Sở Mật thám
liền vào núi Cấm xem xét và rồi
Chủ tỉnh Châu Đốc đòi ông Lầu
đến tra vấn. Chủ tỉnh Châu Đốc
gởi công văn buộc Cò mi Chấn
phải dỡ bỏ cái am mới cất ngay
lập tức. Nhưng Cò mi Chấn trả
lời qua thư rằng: Theo tục lệ An
Nam, không để Phật ngồi giữa
trời dầm mưa, dang nắng như thế…
Chủ tỉnh Châu Đốc lại gởi thư
buộc Cò mi Chấn phải “dỡ am đi
liền”. Lần này Cò mi Chấn lại
đáp: “Cái am cất lỡ rồi, ông là
người đạo Phật sợ phạm tội nên
không dám dỡ!”. Nhờ việc qua lại
ấy mà cái am không bị phá dỡ,
che chở tượng Phật Lớn còn đến
nay.
Cũng theo bài báo trên, tại chùa
Phật Lớn bây giờ có hai bài thơ:
một bài chữ Hán và một bài Quốc
ngữ. Tiện thể chép ra đây để lưu
dấu tích cũ.
Bài thơ chữ Hán:
Hà xứ tiên tiên ngã mộng hồn,
Cấm sơn triêu tịch,
Trắc Quang thôn.
Mô hồ cựu tích thiên niên khứ,
Cô lộ di dung nhứt Phật tồn.
Tằng thác lương nhơn
thành tiểu cái,
Nguyên tương vi thiện
chưởng lai côn.
Chứng minh tự hữu
Không vương tại,
Đa thiểu nhân nhơn vị hứa lôn.
Bài thơ Quốc ngữ:
Núi Cấm trèo chơi hãn biết rồi,
Có gì là cảnh gọi rằng vui
Xa xa hóc trảng nghe người nói,
Trùi trụi đầu non thấy Phật ngồi.
Nóng ruột vì cưu ơn tế độ,
Ra tay thề giúp lực tài bồi.
Am mây vững đặt ngôi Tam bảo,
Cúi nguyện mười phương
chứng dạ tôi.
Trần Nguyên Chấn
5. Chùa Phật Lớn, được coi là lớn là theo sự so
sánh với kích cỡ Phật tượng ở
chùa chiền đây đó thơi bấy giờ.
Giờ đây thì Phật tượng cao 1,8m
thì chẳng là mấy. Lại nữa, tên
gọi “Phật lớn” coi ra đã lỗi
thời, bởi kế đó giờ đây người ta
đã dựng tượng Di Lặc Bố Đại cao
đến 33,6m. Pho tượng có kích cỡ
đạt Guinness Việt Nam này đã làm
lu mờ cả danh lẫn thực của chùa
Phật Lớn - một tập thành ký ức
lịch sử-văn hóa của một thời tủi
nhục và đầy vinh quang của dân
tộc. Rồi nghe đâu nay mai, ngay
trên cuộc đất chùa Phật Lớn này
sẽ dựng lên một thiền viện qui
mô tòa ngang dãy dọc và không
biết di tích chùa Phật Lớn có
còn trụ được với những thách đố
của xu thế hoành tráng
(colossus) đang bộc phát hệt như
cái “chủ nghĩa Guinness” thời
thượng.
Nói chung, ai mà không biết mọi
vật đều thay đổi, song bao giờ
cũng cần có sự cân bằng giữa chủ
nghĩa tiến bộ và chủ nghĩa văn
hóa. Bởi một kiểu phát triển nào
đó sẽ phá vỡ sự thỏa hiệp thiêng
liêng của con người với môi
trường sống, trong đó có môi
trường tự nhiên, môi trường nhân
văn và đặc biệt là tổng thể lịch
sử-tự nhiên của cộng đồng. Các
di tích lịch sử-văn hóa của mỗi
cộng đồng là các di tích có tính
độc đáo không gì thay thế được
vì chúng đã truyền cảm hứng, làm
nên những biểu tượng thiêng
liêng gắn kết các thành viên của
cộng đồng với chúng và mặt khác,
chúng là những mẫu mực về đổi
thay văn hóa, đổi thay thái độ
của các thế hệ với chúng - tức
chúng là chứng tích sông động
của lịch sử văn hóa địa phương.
Ngoài các di tích văn hóa nhân
tạo đó là các địa điểm tự nhiên.
Tổng thể núi non, sông suối, ao
hồ, gò nổng, bến bãi… tạo nên
cái gọi là “làng ta phong cảnh
hữu tình” và hơn thế, các địa
điểm đó gắn bó với các giá trị
vô hình, phi vật thể - một tổng
thể tản mác gồm tín ngưỡng,
truyền thuyết, các truyền thống
thành văn và truyền khẩu. Đấy là
hiện thân cho một tập thành văn
hóa đa dạng và là chứng tích của
ký ức hào hùng hay đau thương
của các thế hệ tổ tiên. Chúng
mãi truyền cho mai hậu những
niềm tin sơ khai về tinh thần
phản kháng hay hy vọng. |