|
Chùa Sắc tứ Tam Bảo - Rạch Giá
Di sản văn hóa của Phật giáo
Kiên Giang
Vào
thập niên cuối thế kỷ 18, một
Phật tử tại Rạch Giá là bà Dương
Thị Oán (cư dân địa phương gọi
là Bà Hoặng) đã đứng ra xây dựng
một ngôi chùa trên một khu đất
thuộc phường Vĩnh Lạc, thị xã
Rạch Giá hiện nay và đặt tên
hiệu là chùa Tam Bảo. Đến nay,
người ta vẫn chưa rõ tiểu sử của
bà Dương Thị Oán cũng như những
vị trụ trì đầu tiên của ngôi
chùa mà chỉ biết rằng, trong
những năm chiến tranh với nhà
Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã từng có
một thời gian tạm lánh tại chùa
Tam Bảo nên sau khi lên ngôi,
vua Gia Long đã ban Sắc tứ cho
chùa vào năm 1803 và từ đó, được
gọi là chùa Sắc Tứ Tam Bảo. Nhà
văn Sơn Nam trong quyển Hồi ký (tập
1 : Từ U Minh đến Cần Thơ) của
ông kể lại rằng bà Dương Thị Oán
giàu có nhờ buôn bán lúa gạo tại
địa phương đã cho Nguyễn Ánh,
khi đang trốn chạy Tây Sơn,
những cuộn tơ tằm quý giá để làm
quai chèo không đứt khi vượt
biển thay cho loại quai chèo
thắt bằng gai, bằng bố dễ đứt và
có thể từ công ơn này mà sau này
vua Gia Long đã ban Sắc tứ cho
chùa Tam Bảo.
Đến
năm 1913, Hòa thượng Trí Thiền (thế
danh Nguyễn Văn Đồng) được Phật
tử địa phương cung thỉnh về trụ
trì chùa Tam Bảo và 2 năm sau,
Ngài cho đại trùng tu lại ngôi
chùa với lối kiến trúc còn được
lưu lại đến ngày nay. Năm 1917,
công trình trùng tu hoàn tất.
Hòa thượng Trí Thiền tiếp tục
trụ trì cho đến năm 1941. Thời
gian gần 30 năm trụ trì chùa Sắc
Tứ Tam Bảo của Ngài là quãng
thời gian ngôi chùa có nhiều sự
kiện lịch sử nhất vì thế cư dân
địa phương còn gọi chùa Tam Bảo
là chùa Ông Đồng.
Sinh
năm 1882 trong một gia đình nông
dân tại làng Vĩnh Thanh Vân,
huyện Châu Thành, tỉnh Rạch Giá.
Năm 30 tuổi, Ngài xuất gia tu
học với Hòa thượng Vĩnh Thùy tại
chùa Hòn Quéo (huyện Hòn Đất) và
năm sau, về trụ trì chùa Tam Bảo.
Đầu thập niên 1930, Hòa thượng
Trí Thiền tham gia phong trào
Chấn hưng Phật giáo tại kỳ và
trở thành một vị cố vấn có tên
tuổi trong giới Phật giáo thời
bấy giờ. Chính trong thời gian
này, ông hội ngộ Sư Thiện Chiếu,
một nhà sư có học vấn sâu rộng,
tư tưởng tiến bộ theo chủ nghĩa
Mácxít. Ngài rất tán đồng lập
trường tiến bộ của Sư Thiện
Chiếu và xem như một người đồng
chí.
Thiền sư Thiện Chiếu, ngoài thế
danh là Nguyễn Văn Sáng, còn có
một tên khác là Nguyễn Văn Tài
và một bí danh là “Xích Liên “ (Bông
sen đỏ), sinh năm 1898 tại Gò
Công. Năm 8 tuổi, Ngài theo hầu
ông nội là Thiền sư Huệ Tịnh (trụ
trì chùa Linh Tuyền, Gò Công) để
vừa học Phật pháp, vừa học chữ
Nho. Năm 1923, Ngài về trụ trì
chùa Linh Sơn (Sài Gòn ) và sau
đó, cộng tác với Hội Nam kỳ
Nghiên Cứøu Phật Học trong Phong
trào Chấn hưng Phật giáo do
Thiền sư Khánh Hòa chủ trương.
Tuy nhiên, một thời gian sau,
Ngài bất đồng chánh kiến với tổ
chức này và đến năm 1936, Ngài
đến Rạch Giá gặp Hòa thượng Trí
Thiền đề nghị cùng thành lập một
tổ chức Phật giáo thực sự tiến
bộ. Thế là, Hội Phật Học Kiêm Tế
được thành lập tại Rạch Giá và
chùa Tam Bảo được sử dụng làm
trụ sở và cũng là tòa soạn của
tạp chí Tiến Hóa của Hội. Chánh
tổng lý của Hội là Hòa thượng
Trí Thiền, hai phó tổng lý là
Hòa thượng Bửu Ngươn (trụ trì
chùa Thập Phương) và Hòa thượng
Bửu Thành (trụ trì chùa Phước
Thạnh). Tạp chí Tiến Hóa ra số
đầu tiên vào đầu năm 1938 do
Phan Thanh Hà (Sư Pháp Linh) làm
Chủ bút và Chủ nhiệm là ông Đỗ
Kiết Triệu. Tên gọi Phật Học
Kiêm Tế đã nêu bật ý hướng của
những người chủ trương : ngoài
việc tìm hiểu Phật pháp còn thực
hành kinh bang tế thế. Tên gọi
Tiến Hóa cho thấy lập trường
tiến bộ của tạp chí. Thực vậy.
Trong những số báo của Tiến Hóa
(xuất bản mỗi tháng một kỳ),
người ta tìm thấy những bài viết
đề cao chánh pháp, bài trừ mê
tín dị đoan, nâng cao dân trí…
Linhhồn của tạp chí Tiến Hóa là
những bài viết xuất sắc mang đậm
quan điểm Duy vật biện chứng của
Sư Thiện Chiếu và Sư Pháp Linh.
Hội Phật Học Kiêm Tế chủ trương
mở Cô nhi viện, lớp học bình dân,
phòng thuốc miễn phí, cứu trợ
nạn nhân thiên tai… Thời gian
này, Hội Phật Học Kiêm Tế và tạp
chí Tiến Hóa là những công cụ
hợp pháp để Hòa thượng Trí Thiền,
Thiền sư Thiện Chiếu và các cộng
sự thực hiện nhiệm vụ chấn hưng
đạo pháp và tham gia cách mạng
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Đông Dương. Từ năm 1940,
chùa Tam Bảo là địa điểm liên
lạc của Liên Tỉnh ủy Hậu Giang
và là nơi cất giấu vũ khí tự tạo
cùng tài liệu, truyền đơn chuẩn
bị cho Khởi nghĩa Nam kỳ. Thế
rồi, tháng 6-1941, do bị chỉ
điểm từ Sa Đéc, Mật thám Pháp ập
vào khám xét chùa Tam Bảo, bắt
Hòa thượng Trí Thiền và Sư Thiện
Ân cùng số tài liệu và vũ khí tự
tạo. Khi bị bắt và tra tấn tại
chỗ, sư Thiện Ân đã đạp đổ một
cái bàn trên đó chất đầy tạc đạn.
Tạc đạn nổ khiến tên chánh mật
thám Sa Đéc chết ngay tại chỗ và
làm bị thương một tên lính khác.
Sư Thiện Chiếu trốn thoát được,
Hòa thượng Trí Thiền bị Tòa Đại
hình của Thực dân Pháp kết án 5
năm đày Côn đảo, còn Sư Thiện Ân
bị kết án tử hình Năm 1943, Ngài
tuyệt thực phản đối chế độ lao
tù khắc nghiệt và hy sinh trong
ngục tối ngày 26.6 AL, thọ 62
tuổi.
Sư
Thiện Ân (thế danh Trần Văn Thâu)
là một Đảng viên Cộng sản. Trong
thời gian hoạt động bí mật tại
chùa Tam Bảo, Ngài phụ trách cất
giấu tài liệu, vũ khí và bố trí
nơi ăn, ở cho các cán bộ cách
mạng đến liên hệ công tác. Năm
1996, Hòa thượng Trí Thiền và Sư
Thiện Aân được công nhận là Liệt
sĩ.
Trốn
thoát được về Sài Gòn, Sư Thiện
Chiếu tiếp tục hoạt động cách
mạng. Năm 1942, Ngài bị bắt, bị
tra tấn đến bại xuội và bị đày
đi Côn đảo. Trong cuộc kháng
chiến chống Pháp, Ngài tham gia
Tỉnh ủy Gò Công và tập kết ra
Bắc năm 1955. Năm 1956, Ngài
sang Trung Quốc làm Tổ trưởng
Ban Phiên dịch Nhà xuất bản
Ngoại văn tại Bắc Kinh. Năm
1961, Ngài về Hà Nội, công tác
tại Viện Triết học (Ủy Ban Khoa
Học Xã Hội) và qua đời tại đây
năm 1974, thọ 76 tuổi.
Sau
khi Hòa thượng Trí Thiền bị đày
ra Côn đảo, chùa Tam Bảo không
có trụ trì cho đến năm 1956 và
từ 1957 đến 1995, các đời trụ
trì là Thượng tọa Tâm Chơn (1957
– 1962), Hòa thượng Bổn Châu
(1962 – 1970), Hòa thượng Thiện
Đạo (1970 – 1974), Hòa thượng
Bổn Châu (1974 – 1995). Hòa
thượng Bổn Châu thuộc dòng Lâm
Tế Chánh tông đời thứ 40 có thế
danh là Trần Văn Bạch, sinh năm
1922 trong một gia đình trung
nông có truyền thống yêu nước
trọng đạo tại huyện Cái Bè (Tiền
Giang). Năm 1945, khi bộ bước
vào cuộc kháng chiến chống Pháp,
Ngài trực tiếp tham gia phong
trào kháng chiến tại quê nhà.
Sau Hiệp định Genève, năm 1957,
Ngài bị chính quyền Ngô Đình
Diệm bắt giam trong 2 năm vì là
người kháng chiến cũ không chịu
hợp tác. Năm 1959, sau khi được
trả tự do, Ngài xuất gia tại
chùa Vạn Thọ (Sài Gòn) và dự
khóa Như Lai Sứ Giả do Giáo hội
Tăng Già Nam Việt tổ chức tại
chùa Ấn Quang. Năm 1962, Ngài
được cử về trụ trì chùa Sắc Tứ
Tam Bảo đến năm 1970 và lần thứ
hai từ 1974 đến 1995. Trong thời
gian trụ trì chùa Sắc Tứ Tam Bảo
trước ngày Giải phóng, Ngài cùng
Cư sĩ Trịnh Văn Minh thường
xuyên vận động tài chính mua
lương thực, thuốc trị bệnh tiếp
tế cho Quân Giải phóng qua ngã
huyện Gò Quao. Sau ngày Giải
phóng, Ngài là Phó Chủ tịch
UBMTTQ tỉnh Kiên Giang phụ trách
công tác tôn giáo và là Đại biểu
HĐND tỉnh suốt nhiều nhiệm kỳ.
Năm 1981, hưởng ứng công cuộc
thống nhất Phật giáo Việt Nam,
với tài tổ chức của Ngài, Tỉnh
hội Phật giáo Kiên Giang là một
trong số những Tỉnh hội đầu tiên
của cả nước và trong 3 nhiệm kỳ
liền từ 1981 đến 1993, Ngài là
Phó Trưởng ban TT Ban Trị sự
Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang
phụ trách Phật giáo Bắc Tông.
Năm 1993, Ngài lâm trọng bệnh và
viên tịch; 2 năm sau đó, thọ 73
tuổi đời, 32 tuổi đạo. Bảo tháp
của Ngài được tôn tạo tại chùa
Sắc Tứ Tam Bảo. Nổi tiếng là một
người có tài làm thơ và có
nhiều bài viết về Phật pháp được
đăng trên báo trước và sau ngày
Giải phóng với bút danh Trần
Trung Nghĩa, khi lâm trọng bệnh,
Ngài đã viết một bài thơ xem như
đó là những lời cuối cùng của
một con người đã hết lòng vì đạo
vì đời:
Nhâm
Tuất sinh ra giữa chợ đời
Cái Bè huyện ấy vốn quê tôi
Thế danh thường gọi Trần Văn
Bạch
Mẹ Giỏi, cha Lưu cùng một nơi
Nóp
giáo lên đường theo tiếng gọi
Trường kỳ chiến đấu chẳng hề lui
Tù đày Năm Bảy, tu Năm Chín
Về trụ chùa này tuổi Bốn mươi
Sắc
lệnh Như Lai bổ sứ về
Tứ phương đạo pháp phá tà mê
Tam thời chuyển pháp hoằng khai
đạo
Bảo tạng huyền thâu tứ diệu đề
Tự
tại thần thông qua bến giác
Bút thần đưa kẻ vượt sông mê
Ký tên bút hiệu Trần Trung Nghĩa
Lưu dấu pháp danh Thích Bổn Châu
Phật
bổ về đây tu ở đây
Công phu công quả dạ nào sai
Tam ngươn vọng bái về Linh thứu
Tứ quí hằng lo phụng tổ thầy
Rạch
Giá trụ trì Tam Bảo tự
Hoằng khai chánh pháp đức Như
Lai
Tế nhơn lợi vật tâm hằng giữ
Phật bổ về đây tu ở đây
Mấy
chục năm qua phụng tổ thầy
Đạo đời nặng gánh dạ nào phai
Đắng cay thuận nghịch lòng không
nản
Dạ chắc bền gan chí chẳng lay
Giả
từ bổn đạo ở nơi đây
Hãy gắng lo tu sẽ gặp thầy
Bên đạo bên đời vai gánh nặng
Công tròn quá mản trở về Tây
Lúc
sống ít nhiều cũng có sai
Xin cùng tất cả thảy ai ai
Thân này sai phạm chi chi đó
Mong được thứ tha lỗi những ngày
Địa
ngục thiên đường cũng tại tâm
Khổ đau chìm đắm bởi mê lầm
Não phiền dứt bỏ Bồ đề hiện
Chẳng nhọc Tây phương chạy kiếm
tầm (1993)
Sau
khi Hòa thượng Bổn Châu viên
tịch, Trụ trì chùa Sắc Tứ Tam
Bảo từ năm 1995 đến nay là Đại
đức Thiện Chơn (thế danh Lâm Văn
Minh). Sinh năm 1962 trong một
gia đình sùng tín Phật pháp tại
huyện Châu Thành (Kiên Giang),
năm 23 tuổi, thầy xuất gia tại
chùa Tam Bảo với Hòa thượng Bổn
Châu và tốt nghiệp trường Trung
cấp Phật học năm 1995. Cũng
trong năm này, Đại đức Thiện
Chơn được bổ nhiệm trụ trì chùa
Tam Bảo và hiện nay, là Chánh
Văn phòng Tỉnh hội Phật giáo
Kiên Giang, Chánh Đại diện Phật
giáo thị xã Rạch Giá, Đại biểu
HĐND tỉnh, Ủy viên MTTQ thị xã,
Ủy viên MTTQ phường, Ủy viên Hội
Chữ Thập Đỏ phường Vĩnh Lạc..
Sau khi về trụ trì, Đại đức
Thiện Chơn đã bắt đầu cho trùng
tu chùa Tam Bảo như trùng tu
Chánh điện (1997), Hậu Tổ
(1998), Tây lang (1999), xây cất
dãy xá cho chư Tăng ni an cư
kiết hạ (2000) và Đông lang
(2001) Nếu vào những năm từ 1955
đến 1980, chùa Tam Bảo là trụ sở
của Hội Phật Học Nam Việt thì từ
1981 đến nay, chùa là Văn phòng
Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo
Kiên Giang và là nợi sinh hoạt
Phật sự của tỉnh. Năm 1988, được
Bộ Văn Hóa công nhận là Di tích
Lịch sử Văn hóa của quốc gia.
Chùa Sắc Tứ Tam Bảo là một di
sản văn hóa quý báu của tỉnh
Kiên Giang với lối kiến trúc còn
nguyên trạng suốt 80 năm qua.
Trong chùa còn lưu giữ được
những tác phẩm độc đáo của nghệ
thuật chạm khắc gỗ như toàn bộ
các bao lam trên Chánh điện được
chạm trổ tinh vi theo dạng
“Lưỡng Long Chầu Nguyệt”, “Song
Phụng Triều Châu”, “Bát Tiên”…
với màu sơn son thếp vàng còn
rực rỡ, quần thể tượng gỗ Phật
Di Lặc, Chuẩn Đề, Địa Tạng, Văn
Thù, Phổ Hiền, Quan Âm Thế Chí…
đạt trình độ cao.
Nguồn: Lược sử những ngôi chùa ở
Kiên Giang |