|
Mặc dù chùa Hải Sơn
đã tồn tại suốt gần 300 năm thế nhưng người ta
chưa được hiểu biết gì nhiều lắm về lịch sử
thành lập ngôi chùa được xem là một trong những
thắng cảnh đẹp nhất của tỉnh Kiên Giang,
một
ngôi chùa mà cư dân địa phương quen gọi là Chùa
Hang. Nếu có, chỉ là những dòng chữ miêu tả cảnh
chùa trong Đại Nam Nhất Thồng Chí, tập 5, quyển
26, tỉnh Hà Tiên, mục Sơn Duyên Chí và ít nhiều
ký ức của các vị bô lão tại địa phương, thậm chí
những lời kể này có khi mâu thuẫn nhau ở từng niên
đại và người sáng lập chùa. Tuy thế, theo những
lời kể đáng tin cậy nhất trong đó có ông Danh
Măng (72 tuổi), một cư dân mà trước ông 4 đời
luôn gắn bó với chùa Hang, thì ngôi chùa này
được thành lập vào những thập niên đầu của thế
kỷ 18. Thời bấy giờ, một vài nhà sư Xiêm La theo
đoàn ngư dân xứ này đến đánh cá tại vùng đất Hà
Tiên đã đưa 2 tượng Phật Thích Ca từ xứ sở của
họ sang thờ phượng trong một hang núi tự nhiên
tại Hòn Chông thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương
hiện nay. Cư dân địa phương lúc đó đa số là gốc
Khmer, gốc Hoa và một số ít là người Việt đến
buôn bán tại đây.
Ngôi chùa do các vị sư người Xiêm La quản lý cho
đến những năm đầu thập niên 1770. Vào thời điểm
này, vùng Hà Tiên bị quân Xiêm La tràn sang xâm
lược (1771). Khi quân Xiêm bị đánh đuổi về nước
(1774), các vị sư người Xiêm hành đạo tại ngôi
chùa nói trên buộc phải về theo vì sợ bị trả thù.
Ngôi chùa (vẫn chưa có tên hiệu đến thời điểm
này) đành phải bỏ hoang phế suốt một thời gian
dài. Trước tình hình này, cư dân địa phương
người gốc Khmer đã cung thỉnh một vài vị sư
người gốc Khmer đến trụ trì. Song, chẳng được
bao lâu, có thể do tập tục và cũng có thể do
không hợp phong thổ nên các vị sư này chuyển ra
ngoài, dựng một ngôi am nhỏ dạng nhà sàn gần đó
để tu hành. Đến nay, ngôi am này còn sót lại
những cây cộc chống. Nhiều năm sau đó, các vị sư
này lại thành lập một ngôi chùa lớn khác cách
ngôi am cũ không xa. Tuy tên hiệu chính thức của
ngôi chùa này là Prakchaokia (Thái Lùa), người
dân địa phương vẫn quen gọi là chùa Ba Trại (đến
nay ngôi chùa này vẫn còn, thuộc hệ phái Nam
Tông) vì chùa nằm trong vùng căn cứ nghĩa quân
Ba Trại dưới chân núi Hòn Chông của Lãnh binh
Nguyễn Trung Trực.
Sau khi các nhà sư
gốc Khmer rời bỏ chùa Hang, cư dân địa phương đã
cung thỉnh hai vị Hòa Thượng người Việt là 2 anh
em ruột Võ Thường Lễ và Võ Thường Nghĩa (không
rõ pháp danh) đến chỉnh trang và mở rộng thêm
mặt bằng. Vì thế, người ta vẫn xem 2 vị Hòa
Thượng này là 2 vị khai sơn tạo lập ngôi chùa
Hang nổi tiếng. Năm đó là năm 1800. Vì 2 vị
Thường Lễ và Thường Nghĩa sống tịnh tu nên mỗi
tháng 2 lần, vào ngày rằm và ngày đầu tháng, cư
dân địa phương đến cúng dường thực phẩm cho đến
khi người cuối cùng viên tịch vào năm 1865.
Kế
tục trụ trì chùa Hang cũng là một vị Hòa Thượng
người Việt pháp danh là Thiện Tông do cư dân địa
phương cung thỉnh về. Vị Hòa Thượng này cũng
sống tịnh tu nên ít tiếp xúc với người ngoài.
Vào một ngày rằm của năm 1920, khi cư dân địa
phương đến cung cấp thực phẩm đã thấy Ngài không
còn ở tong chùa nữa. Họ đổ xô đi tìm nhưng không
tìm được dấu tích của Ngài nên đành phải thỉnh
một vị trụ trì khác. Mãi hơn 10 năm sau, một
người đi rừng đến một hoang vắng trú mưa đã thấy
di cốt của Hòa Thượng Thiện Tông trong bộ áo cà
sa ngồi ở tư thế kiết già, cạnh đó là bình bát
và gậy chống. Cư dân địa phương lấy năm Hòa
Thượng Thiện Tông ra đi làm năm Ngài viên tịch (lúc
đó Ngài khoảng 80 tuổi) và đặt tên cho cái hang
nơi phát hiện di cốt của Ngài là hang Phật Ngủ.
Đời trụ trì thứ ba
của chùa Hang là Hòa Thượng Tố (không rõ pháp
danh và thế danh) cũng sống tịnh tu và viên tịch
vào năm 70 tuổi (1939).
Từ năm 1939 đến năm
1944, trụ trì chùa Hang là Hòa Thượng Chí Hòa (không
rõ thế danh và hành trạng) cũng do cư dân địa
phương cung thỉnh về và gọi thân mật là Sư
Chưởng. Ngài viên tích vào năm 70 tuổi.

Lễ
hội Phật đản - Chùa Hang

Thất châu thất đàn Dược Sư
Vườn tượng Dược sư lớn nhất Việt Nam
Đến năm 1953 cư dân
địa phương cung thỉnh một Sư cô (không rõ thế
danh và hành trạng) quen gọi là Cô Sáu về trông
lo việc Phật sự. Năm sau, cư dân lại cung thỉnh
tiếp Hòa Thượng Thiện Hóa (thế danh Lê Quang Tư)
lúc bấy giờ đang tu học tại chùa Thanh Hòa (xã
Thuận Yên, TX. Hà Tiên hiện nay) về cùng tu và
sau đó là trụ trì. Năm 1975, Sư cô Sáu viên tịch.
Hòa Thượng Thiện Hóa (Thầy Tư) tiếp tục trụ trì
cho đến khi viên tịch vào năm 1999, thọ 79 tuổi.
Trong suốt 45 năm trụ trì chùa Hang, Hòa Thượng
Thiện Hóa đã nhiều lần cho trùng tu và đặc biệt
đại trùng tu vào năm 1962 theo dáng vẻ như ngày
nay và được Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận là
điểm di tích lịch sử và tham quan thắng cảnh vào
năm 1989.
Từ năm 1999 đến năm
2002, chùa do ĐĐ. Thích Minh Hải trụ trì. Và từ
2003 do ĐĐ. Thích Minh Nhẫn trụ trì cho đến nay.
"Lược sử những
ngôi chùa ở Kiên Giang"
NXB Tp. Hồ Chí Minh |