|
Về tư tưởng hiếu đạo, tối thiểu cứ vào cuộc tranh luận do Mâu
Tử lý hoặc luận ghi lại xung
quanh truyện Thái tử Tu Đại Noa
và căn cứ vào chính truyện Tu
Đại Noa, trong Lục độ tập kinh
2, ĐTK 152 tờ 8b7, ta biết có sự
khác biệt cơ bản giữ tư tưởng
hiếu đạo của người Việt Nam và
hiếu đạo của người Trung Quốc.
Hiếu đạo của người Trung Quốc
theo câu mở đầu của Hiếu kinh là:
"Thân thể tóc da, nhận từ cha mẹ,
không dám tổn thương đó là khởi
đầu cuả hiếu. Lập thân hành đạo,
dương danh với hậu thế, đó là
kết cục của hiếu". (Thân thể
phát phu, thọ chi phu mẫu, bất
cảm tổn thương, hiếu chi thủy.
Lập thân hành đạo, dương danh ư
hậu thế, hiếu chi chung).
Người vấn nạn nơi điều 9 trong Mâu Tử lý hoặc luận cũng dựa
vào lý lẽ trên bài bác Mâu Tử,
thì Mâu Tử chỉ ngay: "Thái Bá
cắt tóc, vẽ mình, tự theo tục
của Ngô việt, trái với nghĩa
thân thể tóc da; vậy mà Khổng Tử
ca tụng, cho có thể gọi là chí
đức [...] Dự Nhượng nuốt than,
sơn mình. Nhiếp Chính lột mặt,
tự vẫn. Bá Cơ dẫm lửa, hạnh cao
cắt mặt. Quân tử cho là dũng và
chết vì nghĩa. không nghe ai chê
là tự hủy hết".
Lại nữa, một quan niệm đạo hiếu như trong Hiếu kinh như thế
không thể nào phù hợp với ngay
chính tập tục sống rất phổ biến
cuả người Việt Nam vào thời Hùng
Vương mà Tiền Hán thư 28 hạ tờ
31a5-12 đã ghi lại: "Đất Việt
(...) nay là Thương Ngô, Uất Lâm,
Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam
Hải, Nhật Nam, đều là phần của
Việt... xâm mình cắt tóc để
tránh hại của giao long"
Nhan Sư Cổ (581-645) dẫn Ứng Thiệu (khoảng 130-190) giải
thích tục xâm mình cắt tóc của
người Việt, nói: "Thường ở trong
nước, nên cắt tóc xâm mình, cho
giống với con rồng, để không bị
thương hại".
Tục cắt tóc xâm mình của người Việt như vậy xuất hiện rất
sớm, từ thế kỷ trước Dương lịch
người Trung Quốc đã biết đến và
ghi lại, để cho sau này Ban Cố
(32-92 sdl) chép vào Tiền Hán
thư. Một khi tục cắt tóc xâm
mình đã phổ biến như thế, thì
ngay câu đầu của thuyết hiếu đạo
Trung Quốc nghe đã không lọt tai
đối với người Việt. Người Việt
làm sao giữ hiếu đạo được theo
Hiếu kinh nếu họ đã cắt tóc xâm
mình? Từ thực tế đó, bắt buộc
người Việt phải có một đạo hiếu
khác với đạo hiếu của người
Trung Quốc. Và đạo hiếu này được
công bố rõ ràng trong kinh Tu
Đại Noa của Lục độ tập kinh 2.
ĐTK 152 tờ 8b7; "Giúp nghèo cứu
thiếu, thương nuôi quần sinh, là
đứng đầu của hạnh? (Chẩn cùng tế
phạp, từ dục quần sinh, vi hạnh
chi nguyên thủ).
Khi xác định đứng đầu mọi hạnh (hạnh chi nguyên thủ) là việc
"giúp nghèo cứu thiếu thương
nuôi quần sanh", thì đây là một
định nghĩa hoàn toàn mới về chữ
hiếu, bởi vì theo Đỗ Khâm trong
Tiền Han thư 60 tờ 9a12 thì
"hiếu đứng đầu mọi hạnh của con
người" (hiếu, nhân hạnh chi sở
tiên), và đây cũng là ý chính
của Hiếu kinh, mà Tiền Hán thư
71 tờ 9a9-10 đã dẫn: "Hiếu kinh
nói:"Tính của trời đất, con
ngưòi là quí. Hạnh con người
không gì lớn hơn hiếu".
Nội dung đạo hiếu của người Việt Nam thời tiền Phật giáo như
hoàn toàn khác hẳn đạo hiếu của
người Trung Quốc. Cần nhớ là chữ
hiếu trong tiếng Phạn không có
một từ tương đương với chữ hiếu
cuả tiếng Hán. Từ một nội dung
chữ hiếu như thế, ta mới thấy
Lục độ tập kinh 5 ĐTK 152 tờ
28a22-24, truyện 49, đã lên
tiếng phê phán đạo hiếu của
người Trung Quốc: "Tôi ở đời lâu
năm, tuy thấy Nho sĩ tích đức
làm lành, há có ai như đệ tử
Phật quên mình cứu người, âm
thầm mà không nêu danh ư?" (Xử
thế hữu niên, tuy độ Nho sĩ tích
đức vi thiện, khởi hữu nhược
Phật đệ tử, thứ kỷ tế chúng ẩn
xứ nhi bất dương danh dã hồ?).
Hai thành tố chính của đạo hiếu Trung Quốc là "thân thể tóc
da không dám tổn thương" và "lập
thân hành đạo, nêu tên với hậu
thế" từ đó đã bị khái niệm đạo
hiếu của người Việt Nam phản bác.
Và không chỉ hai thành tố này
cuả Hiếu kinh bị phê phán, một
quan niệm khác do Mạnh Tử nêu
lên, đó là "bất hiếu có ba,
không người nối dõi là lớn nhất"
(bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại)
cũng bị Lục độ tập kinh ở truyện
86, tờ 48a7-10, mạnh mẽ phê phán:
"Người đạo cao thì đức rộng. Ta
muốn cái đạo vô dục, đạo đó mới
quí. Đem đạo truyền cho thần,
đem đức trao cho thánh, thần
thanh truyền nhau cái sự giáo
hóa vĩ đại không hư nát, đó mới
gọi là sự nối dõi tốt lành. Nay
người muốn lấp nguồn đạo, chặt
gốc đức, thì không đáng gọi là
kẻ vô hậu ư?" (Đạo cao giả quyết
đức thâm, ngô dục vô dục chi đạo,
quyết dục trân hỉ. Dĩ đạo truyền
thần, dĩ đức thọ thánh, thần
thánh tương truyền ảnh hóa bất
hủ, khả vị lương tự giả hồ! Nhữ
dục điền đạo chi nguyên phạt đức
chi căn, khả vị vô hậu giả hồ!).
Vấn đề vô hậu của đạo hiếu từ bình diện sinh lý đã chuyển
sang bình diện đạo đức và học
thuật, không nhất thiết phải có
sự thừa tự về mặt sinh vật học
mới gọi là hiếu, đạo hiếu theo
quan niệm của Mạnh Tử, mà còn có
một lối thừa tự khác, sự nối dõi
khác, nối dõi về chân lý, nối
dõi về học thuật, nối dõi về đạo
đức. Quan niệm nối dõi này cuả
ngưòi Việt thời kỳ tiền Phật
Giáo hoàn toàn phù hợp với quan
niệm thừa tự Pháp của Phật giáo.
Nhưng không chỉ có thế, quan niệm nối dõi này mang hai đặc
tính cần lưu ý trong cuộc đấu
tranh để giữ gìn nòi giống của
người Việt. Thứ nhất, để bảo vệ
sự tồn tại như một dân tộc,
người Việt phải xác định mình có
một nền văn hóa, một nền đạo đức
học thuật cần phải nối dõi, cần
phải bảo vệ mà nếu không nối dõi
được thì dân tộc không thể tồn
tại với tư cách là một dân tộc
được. Xuất phát từ quan điểm nối
dõi như thế, người Việt không đi
đến một chủ nghĩa nối dõi cực
đoan, như sự nối dõi về mặt sinh
vật học của chủ nghĩa ưu sinh
(eugenics) hiện đại, gây tác hại
và tốn bao sinh mạng đối với
những dân tộc khác. Bảo vệ nền
văn hóa của mình, bảo vệ lối
sống (hạnh) của mình, người Việt
sẵn sàng mở rộng đôi tay đón
nhận những người từ dân tộc khác
đến sống chung trở thành một bộ
phận của dân tộc mình.
Đây là đặc điểm thứ hai của quan niệm thừa tự của người Việt
tiền Phật giáo. Họ có quan niệm
như thế cũng phải thôi, bởi vì
địa bàn sinh tồn của họ, cụ thể
là vùng trung du và đồng bằng
Bắc bộ vào thời xa xưa đã tồn
tại những dân tộc khác. Cho nên,
những giao lưu về huyết thống
giữa các dân tộc khác nhau tất
phải xảy ra. Do đó, nếu chỉ dựa
vào sự nối dõi theo quan điểm
sinh vật học, thì người Việt đã
không phát triển và hình thành
được một cộng đồng dân tộc thuần
nhất. Họ phải dựa vào một quan
điểm khác để có sự thuần nhất ấy,
đó là, sự thuần nhất về mặt văn
hóa và lối sống.
Trong bối cảnh của một nền chính
trị, kinh tế và văn hóa như thế,
đã nổi bật lên một số tư tưởng,
tín ngưỡng của người Việt đời
Hùng Vương mà ngày nay ta còn
tìm thấy trong các thư tịch cổ
và được chứng thực một phần nào
bởi các di liệu khảo cổ học. |