|
Lược sử Gia đình Phật tử Kiên
Giang
CHƯƠNG III: NHỮNG GIAI ĐOẠN
THĂNG TRẦM
Sau giai đoạn cực
thịnh lúc mới thành lập, các
GĐPT ở Kiên Giang thường rơi vào
giai đoạn trầm lắng. Đơn cử
trường hợp GĐPT Chánh Quang, con
chim đầu đàn của GĐPT Kiên Giang:
sau giai đoạn cực thịnh từ năm
1956 đến 1959, đơn vị này bắt
đầu rơi vào thời kỳ khủng hoảng.
Các huynh trưởng lần lượt ra đi
vì nhiều lý do, đoàn sinh mất
dần. Có lúc chỉ còn một, hai
huynh trưởng và không đến 10
đoàn sinh đi sinh hoạt mỗi tuần.
Tình hình xấu nhất là vào năm
1963, khi Phật Giáo đồ cả nước
đứng lên đấu tranh chống chế độ
đàn áp Phật Giáo của anh em nhà
họ Ngô.
Sau khi chế độ họ
Ngô sụp đổ và Giáo Hội PGVN
Thống Nhất ra đời thì tình hình
sinh hoạt của các GĐPT lại được
cải thiện. Nhiều huynh trưởng là
giáo viên, công chức, quân nhân
đến với sinh hoạt GĐPT làm cho
không khí hoạt động thêm nhiều
khởi sắc, gây được sự chú ý và
thiện cảm của các giới trong xã
hội.
Cũng trong giai
đoạn 1964 - 1970, có thêm 2 đơn
vị GĐPT mới thành lập là Chánh
Đức (Phú Quốc) và Chánh Thiện (Rạch
Giá).
Từ khi Giáo Hội
PGVN Thống Nhất ra đời, các đơn
vị GĐPT miền Nam không còn trực
thuộc Hội Phật học Nam Việt nữa,
mà trực thuộc Ban Hướng Dẫn GĐPT
Trung ương (thuộc Gia Đình Phật
Tử vụ, một ngành trong Tổng vụ
Thanh niên Viện Hóa Đạo Giáo Hội
PGVNTN). Nhờ có sự thống nhất
trong tổ chức mà các GĐPT tại
Kiên Giang được tiếp thêm sức
sống, hoạt động có bài bản và đi
vào nề nếp ổn định.
Trong các năm
1964 - 1975, tại Kiên Giang,
GĐPT là đoàn thể thanh thiếu nhi
hoạt động có chất lượng nhất (các
đoàn thể khác gồm: Học sinh Phật
tử, Thanh Sinh Công (Thiên Chúa),
Vovinam (Việt võ đạo), Hướng Đạo
Việt Nam, Hướng Đạo Quân Đội,
Thanh niên Hồng Thập tự). Trong
một Trại họp bạn do Ty Thanh
Niên Kiên Giang tổ chức vào mùa
hè năm 1974 có mặt đầy đủ các
đoàn thể trên, GĐPT đã chiếm
12/13 giải nhất trong tất cả nội
dung thi đua toàn trại.
GĐPT tại Kiên
Giang thời kỳ trước giải phóng
được sự chú ý và mối thiện cảm
của quần chúng vì có những hoạt
động xã hội ra ngoài phạm vi nhà
chùa như: lạc quyên cứu trợ,
tham gia các giải văn nghệ, thể
thao trong tỉnh… Nhưng hiện nay,
GĐPT không còn hoạt động như thế
nữa, mà chỉ gói gọn sinh hoạt
trong khuôn viên chùa. Đó là một
thiệt thòi cho đoàn thể Áo Lam
vì hoạt động xã hội cũng là một
trong những phương pháp giáo dục
hữu hiệu của tổ chức GĐPT.
* Tóm
lại, GĐPT tại Kiên Giang nói
riêng, các GĐPT miền Nam nói
chung đều có những lúc thăng
trầm, nhưng "thăng" thì ít mà "trầm"
thì nhiều. Vì sao vậy? Chúng ta
hãy thử so sánh với GĐPT miền
Trung, nhất là tại Huế - cái nôi
của GĐPT Việt Nam - để thấy được
cốt lõi vấn đề.
Ở miền Trung,
phần lớn các GĐPT được thành lập
tại các chùa khuông hội và các
niệm Phật đường mà nơi đó người
cư sĩ nắm vai trị tự quản và
quyết định mọi việc. Không như ở
miền Nam, GĐPT là người "ăn nhờ
ở đậu", hoàn toàn lệ thuộc vào
thầy trụ trì và ban hộ trì Tam
Bảo nơi chùa đó .Từ đó dẫn đến
tính bền vững của các GĐPT miền
Trung và tính bấp bênh của các
GĐPT miền Nam.
Đại đa số phật tử
miền Trung có tâm đạo vững và
sâu , còn phật tử miền Nam thì
tâm đạo có phần hời hợt và ít
người hiểu biết về sinh hoạt
GĐPT, xem sinh hoạt GĐPT là thứ
để "trang trí", có cũng được mà
không có cũng được.
Đoàn viên GĐPT
miền Trung xem tổ chức Áo Lam là
mái ấm để họ nương tựa trong
những lúc cuộc sống gặp khó khăn.
Tính tương trợ trong các GĐPT
miền Trung rất cao. Sinh hoạt
GĐPT đối với họ là lý tưởng sống
không thể thiếu trong cuộc đời
người cư sĩ. Trong khi đó, đại
đa số đoàn viên GĐPT miền Nam
xem tổ chức Áo Lam là nơi vui
chơi giải trí khi nhàn nhã. Họ
không tìm thấy nơi đây những
điều bổ ích thiết thực cho cuộc
sống. Rất ít người xem GĐPT là
lý tưởng là lẽ sống. Do đó họ
rất dễ dàng rời bỏ tổ chức.
Sự khác biệt này
có lẽ một phần nguyên nhân là do
cuộc sống kinh tế của mỗi miền
khó khăn và thuận lợi khác nhau.
Từ những đặc tính nêu trên, ta
có thể hiểu vì sao các GĐPT miền
Nam thăng trầm thất thường. |