|
Lược sử Gia đình Phật tử Kiên
Giang
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH SINH HOẠT
GĐPT TẠI KIÊN GIANG
SAU NGÀY GIẢI PHÓNG
Cuối năm 1988,
nhờ vào quyết tâm của một số
anh chị huynh trưởng
GĐPT tại Rạch Giá cùng với sự
khuyến khích của Hòa Thượng
Thích Bổn Châu, Phó trưởng ban
Trị sự Tỉnh Hội Phật Giáo Kiên
Giang lúc ấy, sinh hoạt GĐPT
được nhen nhúm trở lại mặc dù
chính quyền chưa có quyết định
cho phép GĐPT được chính thức
sinh hoạt.
Dưới danh nghĩa
Ban Hướng Dẫn Nam Nữ cư sĩ Phật
Tử (một trong 8 ban ngành chính
thức của Giáo Hội PGVN được Nhà
Nước cho phép hoạt động), các
anh chị huynh trưởng đã tập hợp
thanh thiếu đồng niên tại một số
tự viện như :
- Tại thị xã Rạch
Giá có các tự viện : Tam Bảo,
Phổ Minh, Ngọc Hải, Ngọc Sơn,
Phật Quang, Hòa Long , Hòa Thạnh,
Phật Lớn.
- Tại thị xã Hà
Tiên : Tam Bảo, Vạn Hòa.
- Tại thị trấn
Tân Hiệp: Kiên Tân, Bửu Sơn.
Tổng cộng có 12
tự viện tham gia sinh hoạt, quy
tụ hơn 500 thanh thiếu đồng niên.
Phong trào Hướng Dẫn cư sĩ Phật
tử lúc ấy đã thổi một làn sinh
khí trẻ trung, tươi nhuận vào
không gian trầm mặc và cô tịch
của các tự viện sau hơn 10 năm
lắng mình trong cam chịu trước
bao đổi thay của thế sự.
Tuy nhiên, phong
trào cũng chỉ sôi động được 2
năm. Sau đó lắng xuống vì các
nguyên nhân sau :
- Thiếu huynh
trưởng nồng cốt làm hạt nhân tại
các tự viện.
- Trước sức ép vì
gánh nặng kinh tế gia đình, đa
số thanh thiếu niên buộc lòng
phải rời phong trào do miếng cơm
manh áo.
Mặc dù phong trào
chung có lắng xuống nhưng một số
đơn vị đã cứng cáp trưởng thành
hơn. Vào năm 1990 sinh hoạt GĐPT
gom lại còn 6 đơn vị: Chánh
Quang (Phổ Minh), Chánh Đạo (Tam
Bảo Rạch Giá), Chánh Thiện (Phật
Quang), Kiên Tân (Tân Hiệp), Bửu
Sơn (Tân Hiệp) và Chánh Pháp
(Tam Bảo Hà Tiên).
*
Âu cũng là quy luật tất yếu cho
thấy muốn duy trì một đơn vị
GĐPT cần có hai thế hệ nồng cốt:
một là thế hệ lớn tuổi có lý
tưởng, có tay nghề và kinh
nghiệm; hai là thế hệ huynh
trưởng trẻ xông xáo nhiệt tình.
Ngoài hai điều kiện đó khó lòng
duy trì sinh hoạt GĐPT.
Trước nhu cầu
chính đáng của giới Phật tử trẻ
muốn được tiếp tục sinh hoạt
GĐPT, trong lần Đại hội Phật
Giáo toàn quốc nhiệm kỳ III
(1992), Giáo Hội PGVN đã chính
thức đưa sinh hoạt GĐPT vào
chương trình nghị sự, tạo tiền
đề cho tổ chức GĐPTVN khôi phục
hoạt động một cách hợp pháp.
Nhưng mãi đến năm 1995, Nhà Nước
VN mới ra thông báo số 01/TB-TGCP
cho phép GĐPT được hoạt động
trên toàn quốc.
Tại Đại hội Phật
Giáo toàn quốc lần thứ IV
(1997), sinh hoạt GĐPT mới được
chính thức đưa vào Hiến chương
Giáo Hội theo cơ chế. Ban Hướng
Dẫn Phật Tử gồm 2 phân ban:
1/ Phân ban hướng
dẫn Cư sĩ
2/ Phân ban hướng dẫn GĐPT
Từ đây đã có một
hành lang pháp lý giúp cho GĐPT
được sinh hoạt một cách hợp pháp
trên toàn quốc.
* Cũng kể
từ đây xuất hiện các cụm từ "GĐPT
sinh hoạt trong lòng Giáo Hội",
"GĐPT sinh hoạt ngoài Giáo Hội",
"GĐPT quốc doanh", "GĐPT do Nhà
Nước thành lập", "GĐPT truyền
thống"… Các cụm từ này để phân
biệt những GĐPT sinh hoạt dưới
sự quản lý của Giáo Hội PGVN và
những đơn vị GĐPT sinh hoạt dưới
danh nghĩa Giáo Hội PGVN Thống
Nhất. Hai cụm từ đầu do quý thầy
trong GHPGVN đặt ra; cụm từ sau là do
các anh em áo lam đang sinh hoạt
dưới danh nghĩa Giáo Hội PGVN
Thống Nhất “tặng" cho các anh em
đang sinh hoạt trong GHPGVN; cụm
từ sau cũng là do các anh em "Thống
Nhất" tự xưng với hậu ý cho rằng
mình mới là GĐPT theo đúng
truyền thống, còn các GĐPT "quốc
doanh" là "Sen đỏ"(!).
Đây là một giai
đoạn đau lòng trong lịch sử
GĐPTVN vì thời thế đã chia tách
tổ chức chúng ta thành 2 khối
đứng hai bên giới tuyến, Cầu
Hiền Lương chưa kịp nối liền thì
đã hình thành một giới tuyến
khác trong tâm tư tình cảm con
người Việt Nam, trong đó có Tăng
Ni và Phật Tử.
Mặc dù đã có sự
thống nhất Phật Giáo cả nước
trong một tổ chức Giáo Hội duy
nhất là Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam, nhưng trên thực tế một bộ
phận tăng ni vẫn hướng về Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất (trước năm 1975). GĐPT là
một bộ phận không thể tách rời
Giáo Hội, vì thế trước sự chia
tách trong ý thức hệ của quý
Thầy thì sự chia tách ý thức hệ
trong tổ chức Áo Lam xảy ra là
điều tất yếu.
Tuy nhiên, để cho
trang sử GĐPT không thêm hoen ố;
để cho tình cảm giữa những người
Áo Lam còn được nguyên vẹn để
mai kia còn nhìn vào mắt nhau và
để cho đàn em mai sau còn giữ
mãi Tình Lam trinh nguyên như
ngày nào, anh em Áo Lam chúng ta
trong giờ phút này cần phải kềm
chế tâm phân biệt để đừng bôi
bẩn nhau bằng danh từ và nhất là
đừng gieo vào đầu óc các em sự
phân biệt bằng những lời vọng
ngữ. Nếu không chúng ta sẽ trả
giá đắt cho những gì chúng ta
làm ngày hôm nay. |