PHẬT GIÁO NHẬP THẾ: TÍCH CỰC HAY TIÊU CỰC

Bài thuyết trình cho hội thảo nhân ngày

Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc 2008

Kiên giang, 07/05/2008
Thích Phước Chí

 

Ngày 11 tháng 01 năm 2007, Việt Nam được chính thức gia nhập và trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trước khi sự kiện này xảy ra, dư luận trong và ngoài nước đều bàn tán xôn xao và Việt nam đã tham khảo rất nhiều ý kiến, lợi thế nào và hại thế nào. Khi chúng ta hoà nhập vào cộng đồng thế giới thì quá trình ảnh hưởng hai chiều tất yếu phải xảy ra. Một mặt, hàng hoá và văn hoá Việt Nam được giới thiệu rộng rãi ra nước ngoài nhưng mặt khác chúng ta cũng phải tiếp nhận một số lượng lớn hàng hoá và văn hoá nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam. Trước sự ảnh hưởng hai chiều này, Việt nam cần phải có những biện pháp làm thế nào để chúng ta hoà nhập mà không “hoà tan”. Nói một cách khác là chúng ta vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc, không bị đồng hoá hay nô lệ văn hoá phương tây.

 

Riêng về Phật giáo, Chư tôn đức lãnh đạo Phật giáo Việt nam đưa ra nhiều phương hướng hoạt động cho Phật giáo, những cơ hội mà Phật giáo phải nắm bắt cũng như những thách thức mà Phật giáo phải đối mặt trước sự biến chuyển lớn lao này. Sự kiện này gọi là Phật giáo nhập thế ở thiên niên kỷ thứ 3.

 

Thực ra, khái niệm Phật giáo nhập thế không phải là điều gì mới lạ, mà ngay từ thời Đức Phật còn tại thế Phật giáo đã đi vào cuộc đời. Sau khi độ cho năm anh em A Nhã Kiều Trần Như, Đức Phật tiếp tục hóa độ và thâu nhiếp tôn giả Yasa cùng 54 người khác gia nhập Tăng đoàn tại thành phố Ba-la-nại. Khi Tăng đoàn lên đến 60 vị, đều là A-la-hán, Đức Phật khuyên họ chia nhau đi khắp nơi để hoằng pháp lợi sanh.

“Hãy ra đi, các Tỳ Khưu, đem sự tốt đẹp lại cho nhiều người, đem hạnh phúc đến nhiều người. Vì lòng từ bi, hãy đem sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc lại cho chư Thiên và nhân loại. Mỗi người hãy đi một ngã. Này hỡi các Tỳ Khưu, hãy hoằng dương Giáo Pháp, toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở đoạn cuối cùng, toàn hảo trong cả hai, tinh thần và văn tự. Hãy công bố đời sống thiêng liêng cao thượng, vừa toàn thiện, vừa trong sạch.”[1]

 

Sau đó, Phật giáo đã phát triển cực thịnh với rất nhiều vị danh Tăng dưới triều đại vua A Dục và được sự tôn sùng của nhiều tầng lớp xã hội những người không tin vào quyền lực của thánh điển Veda, mở ra một cánh cửa của đời sống tinh thần cao hơn cho nhiều tầng lớp trong xã hội.

Gần đây hơn, Phật giáo Việt nam thời Tiền Lê đã thể hiện hết sức rõ ràng tinh thần nhập thế qua bài thơ “Vận Nước” của Thiền sư Pháp Thuận khi trả lời vua Lê Đại Hành về vận nước:

“ Vận nước như mây quấn,

Trời Nam hưởng thái bình.

Vô vi trên điện các,

Xứ xứ hết đao binh.”

Để nước non hưởng được thái bình thì vận nước phải như mây quấn. Nghĩa là mọi người phải đoàn kết, gắn bó nhau như mây quấn và vua của một nước là trung tâm của sự đoàn kết gắn bó này. Vua phải được lòng dân. Để được lòng dân, vua thật sự phải là vị vua “vô ngã”, biết lấy lòng dân làm lòng mình, lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình và từ đó xứ xứ hết đao binh.

 

Đến Phật giáo thời Lý -Trần, đặc biệt là vào thời Trần, Phật giáo đã trở thành hệ tư tưởng chủ đạo của dân tộc, nắm lấy trọng trách lãnh đạo tinh thần dân tộc. Tinh thần nhập thế của Phật giáo lại càng sáng tỏ hơn bao giờ hết. Vào đêm mùng 3 tháng 4 năm 1236, một người thanh niên trai trẻ đã trốn triều đình, bỏ ngai vàng, lên núi Yên Tử với hy vọng tìm Giác ngộ. Gặp được Trúc Lâm quốc sư, Ngài dạy: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong tâm ta. Nếu tâm thanh tịnh, trí tuệ xuất hiện, thì đó chính là Phật, khỏi phải cực khổ tìm bên ngoài.” Cuối cùng, trước khi Vua Trần Thái Tông xuống núi, Quốc sư dạy thêm rằng: “Phàm làm vua thì phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình, phải lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về, bệ hạ không về sao được.” Quốc sư đã chỉ bày cho Vua Thái Tông một phương châm hành động đạo đời dung hợp.

“ Vai mình mang một quê hương,

   Còn mang nặng cả nỗi buồn tử sanh.”

Đến đời Vua Trần Nhân Tông, người đã từ bỏ ngai vàng vào năm 1293 và lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trên đỉnh núi Yên Tử, tinh thần nhập thế của Phật giáo đã đạt đến đỉnh điểm. Vua Trần Nhân Tông đã thể hiện một tấm gương đời đạo lưỡng toàn. Ngài đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ vững chắc đất nước trước hai cuộc xâm lăng cực kỳ hùng mạnh của quân Nguyên – Mông[2]. Mặt khác, tinh thần Phật giáo nhập thế cũng đã thể hiện vô cùng rõ nét qua bài phú “Cư Trần Lạc Đạo” của Ngài:

“Cư trần lạc đạo hãy tuỳ duyên,

Hễ đói thì ăn, mệt nghỉ liền.

Châu báu đầy nhà đừng chạy kiếm,

Vô tâm đối cảnh hỏi chi Thiền?”[3]

Hình ảnh một lãnh tụ quốc gia cầm quân ra trận khi Tổ quốc lâm nguy, đồng thời cũng là một Thiền sư siêu thoát lúc đất nước thanh bình, đó là kết tinh kỳ diệu của một nền Phật giáo tự chủ trong một quốc gia độc lập phú cường. Tính cách đặc biệt nhất của Phật giáo thời kỳ này là sự gắn liền không thể tách rời giữa Đạo và Đời. Chính tính cách Đạo - Đời một thể, một tướng ấy đã tạo nên sức mạnh vô song của đời Trần. Chúng ta có thể nói đây là giai đoạn vàng son nhất của lịch sử Việt nam nói chung hay lịch sử Phật giáo Việt nam nói riêng.

Gần đây nhất, vào những năm đầu của thập niên 60, trước sự đàn áp, phân biệt đối xử của chính quyền Sài gòn ở miền Nam Việt Nam, những vị Tăng sĩ Phật giáo đã đứng lên đấu tranh. Ngày 11/06/1963 hình ảnh làm chấn động cả thế giới của Bồ tát Thích Quảng Đức, người đã tự thiêu ở giữa ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, Sài gòn. Toàn thể Tăng Ni, tín đồ Phật tử đã xuống đường tranh đấu. Từ đó khái niệm “Phật giáo nhập thế” lại một lần nữa được đề cập.

“Khi tôi sống ở Việt Nam, có rất nhiều làng mạc bị bom đạn. Cùng với tất cả những huynh đệ, tôi quyết định phải làm cái gì đó. Tiếp tục ở trong chùa tu tập hay bước ra giúp đỡ đồng bào bà con đang bị đau khổ vì bom đạn? Sau khi suy nghĩ cẩn thận tôi quyết định làm cả hai, ra giúp đỡ mọi người mà vẫn an trú trong chánh niệm. Tôi gọi đây là hình thức “Phật giáo nhập thế””[4].

Trong bối cảnh Việt nam hiện nay, sự kiện Phật giáo nhập thế mang tính hiện thực, thời đại. Bàn về vấn đề Phật giáo nhập thế có nghĩa là chúng ta phải nói đến quá trình ảnh hưởng hai chiều qua lại. Hay nói theo cách khác là bàn về hai vấn đề “Đưa đạo vào đời”[5] và “Đưa đời vào đạo”[6]. Hai yếu tố “thuận” và “nghịch” là hai mặt đối lập của một sự vật, hiện tượng. Đây là tính biện chứng khách quan. Hai quá trình này không thể tách rời nhau. Nó có sự gắn bó tương quan mật thiết như mặt phải và trái của bàn tay.

Mặt phải tức là ảnh hưởng “thuận”, về mặt tác dụng, chúng ta không cần bàn nhiều, vì tác dụng này hoàn toàn tích cực. Điều quan trọng là chúng ta phải dùng những phương pháp gì để đưa đạo vào đời một cách có hiệu quả trong bối cảnh xã hội Việt nam hiện nay? Đưa đạo vào đời không chỉ đơn thuần là Tu sĩ Phật giáo đi làm từ thiện xã hội, đi thuyết giảng giáo pháp mà theo chúng tôi suy nghĩ, Giáo hội phải có định hướng cụ thể cho từng ngành, từng vùng, từng khu vực. Để quá trình đem đạo vào đời có hiệu quả hơn, chúng ta không chỉ đào tạo giảng sư mà phải đào tạo những “nhà truyền giáo”. Một “nhà truyền giáo” được đào tạo chất lượng là phải được trang bị thật đầy đủ về kiến thức Phật học lẫn thế học cũng như kiến thức về khoa học, phương ngữ[7], văn hoá cũng như những tập tục nghi lễ của từng vùng, từng khu vực mà “nhà truyền giáo” ấy sẽ được gởi đến. Nhất là những cấm kỵ địa phương, “nhà truyền giáo” không thể phạm phải những sai lầm khi đến địa phương đó. Trước khi được gởi đi, “nhà truyền giáo” phải nghiên cứu thật kỹ phong tục tập quán, văn hoá ngôn ngữ, tín ngưỡng bản địa của vùng đó. Chúng tôi thiết nghĩ có như thế thì việc truyền bá chánh pháp được hiệu quả hơn.

Mặt trái của quá trình Phật giáo nhập thế là “Đưa đời vào đạo”. Có ý kiến cho rằng đây là một vấn đề tai hại. Có phải “Đưa đời vào đạo” là đem vật chất xa hoa, phim ảnh, nhạc trữ tình…vào Thiền môn? Đây là vấn đề cần phải suy nghĩ thật chu đáo vì tác dụng tiêu cực rất lớn. Nếu chúng ta vô tình hay thờ ơ trước sự xâm nhập của đời vào đạo ngày một ồ ạt trong những năm gần đây thì hậu quả vô cùng to lớn. Đây là một hệ quả tất yếu trong quá trình Phật giáo nhập thế. Trong quá trình này, chúng ta buộc phải đưa đời vào đạo để hiện đại hoá Phật giáo bằng những phương tiện khoa học kỹ thuật, vì nếu không chúng ta cũng không thể đưa đạo vào đời. Ngày nay, chúng ta đang sử dụng hệ thống mạng lưới Internet toàn cầu để hoằng truyền chánh pháp Phật đà trên phạm vi toàn thế giới. Một mặt chúng ta đã đưa Phật giáo đến với mọi người nhưng mặt trái của nó là rất nhiều những thông tin không lành mạnh xâm nhập vào chùa chiền. Do đó, chúng ta phải thận trọng trong vấn đề này. Trong trường hợp này, chúng tôi thiết nghĩ phải có “bức tường lửa” bảo vệ. Bức tường đó là giới luật của người tu. Nhưng chừng ấy vẫn chưa đủ, cẩn thận hơn nữa ở những nơi có đông Tăng chúng tu học, vì nhu cầu học tập phải nối mạng Internet, thì phải được quản lý bởi hệ thống một máy chủ để quản lý những thông tin, những Website mà Tăng chúng truy cập. Được như vậy, chúng ta mới có thể làm giảm bớt phần nào sự xâm nhập những điều không tốt của đời vào đạo. Nhưng không phải lúc nào đời xâm nhập vào đạo cũng đều mang tính tiêu cực. Có ý kiến cho rằng trong cuộc chấn hưng Phật giáo Việt nam, tổ chức gia đình Phật tử là biểu hiện của đời xâm nhập vào đạo. Đây là biểu hiện hoàn toàn tích cực vì đã hướng đạo cho đoàn thể thanh thiếu niên vào Phật giáo. Những bộ đồng phục mang dáng dấp hướng đạo sinh trong khuôn viên chùa, tiếng còi hiệu hướng đạo vang lên bên cạnh tiếng chuông chùa, đấy có phải là đưa đời vào đạo? Cho nên đời xâm nhập vào đạo tích cực hay tiêu cực là do chúng ta biết gạn lọc những yếu tố ảnh hưởng tốt hay ảnh hưởng xấu cho Phật giáo.

Trong suốt quá trình dựng nước và giữ của dân tộc Việt nam, Phật giáo đã thể nhập vào “linh hồn” dân tộc, đó là biểu hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt nam. Hôm nay đứng trước những chuyển biến lớn lao của Việt nam hay cả thế giới, vấn đề Phật giáo hội nhập lại một lần nữa được đề cập như là một vấn đề hết sức bức bách và do đó chúng ta nên thận trọng cân nhắc để giữ gìn được bản sắc văn hoá Phật giáo và dân tộc.

 

[1] Mahāvagga., tr 19,20.

[2] Ba lần xâm lược của quân Nguyên – Mông: Lần thứ nhất 1257, dưới thời vua Trần Thái tông; lần thứ hai 1283 và lần thứ ba 1288-1289, dưới thời Vua Trần Nhân Tông.

[3] Nguyễn Lang., Việt Nam Phật giáo sử luận., Nxb Văn học., Hà Nội: 2000., tập I., tr. 293.

[4] Thich Nhat Hanh., Peace Is Every Step., New York: Bantam Books., 1991., tr. 91.

[5] “ảnh hưởng thuận” – Cách dùng của tác giả.

[6] “ảnh hưởng nghịch”

[7] Ngôn ngữ địa phương.

 


NGUỒN THAM KHẢO :

1/-Báo cáo Đại hội đại biểu PGVN toàn quốc lần VI-2007

2/-Truyền Thống Văn Hóa & PGVN – Minh Chi – NXB Tôn Giáo 2003

3/-Lịch Sử PGVN – Lê Mạnh Thát – NXB

4/-Đạo Phật Việt Nam – Thích Đức Nghiệp – NXB.TP.Hồ Chí Minh 1995

5/-Bồ Tát Đạo hay Con Đường Lý Tưởng tập I, II, III – Minh Đức – Thanh Lương –

    NXB TPHCM  1999

6/-Kỷ Yếu 50 năm GĐPT VN – Phân ban HD.GĐPT Thừa Thiên-Huế - 2001

7/-Dưỡng Dục Con Cái – Carol Cooper – NXB Phụ Nữ 2004