Long An,ngày 03 tháng 4 năm 2008

Bài Tham Luận Vesak 2008.VN

ÁI NGỮ VÀ VẤN NẠN GIA Đ̀NH

Lời nói  là công cụ giao tiếp giữa con người với con người. Nó đóng một vai tṛ quan trọng trong việc tạo nên t́nh cảm vui buồn, hiểu biêt, thông cảm hay ganh ghét lẫn nhau trong các mối quan hệ gia đ́nh.

Ngày nay thông qua phương tiên truyền thông đại chúng, chúng ta ghi nhận được nhiều bi kịch xảy ra trong gia đ́nh có nguồn gốc từ lời nói như các thành viên trong gia đ́nh không tin tưởng lẫn nhau, bạo hành, ly hôn, trẻ vị thành niên phạm pháp, tự tử v́ bị oan ức hay bi tổn thương tâm lư, thiếu sự quan tâm dạy dỗ, mất ḷng tin, thiếu sự chân thật.

Trước những vẫn đề này Phật giáo cung cấp pháp Ái Ngữ để xây dựng nếp sống gia đ́nh hạnh phúc, để giải bày thông cảm nhau,  để xây cầu bắt nhịp cảm thông, hóa giải mọi tị hiềm nghi nan, và hướng dẫn động viên nhau làm việc chánh thiện. Thông qua nó, việc trấn áp nhau, làm buồn phiền tủi nhục cho nhau, làm tổn thương cho nhau sẽ biến mất.

I. Định nghĩa

Thông thường từ Ái ngữ c̣n được gọi là Ái ngữ nhiếp. Nhiếp là bằng phương tiện Ái ngữ để ảnh hưởng người khác. Như vậy khi gọi Ái ngữ là hướng đến tính hiệu quả của lời nói. Nghĩa là lời nói phải chuyển tải được tính chân thực, tính thông cảm, tính thương yêu, tính xây dựng, tính thuyết phục khiến cho người nghe hiểu và chấp nhận được những ǵ mà người nói muốn truyền đạt. Do đó từ Ái ngữ thường được đề cập chung với từ Bố thí, Lợi hành và Đồng sự, gọi là Tứ nhiếp pháp (四攝法). Nó xuất hiện trong cả hai hệ kinh điển Bắc truyền và Nam truyền. Ở các kinh điển Bắc truyền đối tượng nghe và thực hành Tứ nhiếp pháp là các vị Bồ tát.[1] Ngược lại ở đối tượng nghe và thực hành Tứ nhiếp pháp trong các kinh điển Nam truyền là chư Tăng Ni và cư sĩ.[2]

Ở đây người viết không khảo sát so sánh về sự khác biệt này mà tập trung vào từ Ái ngữ trong mối quan hệ gia đ́nh. Trong kinh Đức Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của nó đối với đời sống của con người: “Tứ nhiếp pháp như cái trục của chiếc xe. Nếu không có Tứ nhiếp pháp th́ con cái sẽ không kính trọng cha mẹ.”[3]  Do đó khi Đức Phật nói với ngài Thủ Trưởng giả “Trong quá khứ, hiện tại và vị lai, nếu có vị tăng hay Bà-la-môn nào phục vụ số đông theo chánh pháp th́ sự phục vụ đó gồm cả Tứ nhiếp pháp.[4]

Thuật Ái ngữ trong tiếng Hán-Việt có nguồn góc từ tiếng Pāli peyyavacana hay priyavacan trong tiếng Sanskrit và được dịch tiếng Trung Quốc là Ái-yu (愛語). Thuật ngữ này được sử dụng tương đối thống nhất trong Hán tạng.[5] Do đó từ nguồn tư liệu của Hán Tạng, chúng ta có được các định nghĩa cơ bản về Ái ngữ:

Ái ngữ là lời nói của ḷng nhân ái (愛語。即此仁愛也)[6], lovable speech.[7]

Ái ngữ là lời nói chân thật (愛語謂實語等).[8]

Ái ngữ là lời nói v́ lợi ích cho người khác (愛語者。常利益生故).[9]

Ái ngữ là lời nói về công đức, trí tuệ và làm cho tâm cởi mở (愛語者。功德智慧心無吝惜).[10]

Ái ngữ là lấy tâm vô nhiễm mà chi rơ con đường (愛語者。以無染心分別開示).[11]

          Tối thắng của Ái ngữ là dạy giáo pháp cho người thích nghe và nói giáo pháp đúng thời (最勝愛語者。謂善男子樂聞應時說法).[12]

Từ các định nghĩa cơ bản này, chúng ta có thể nói Ái ngữ bao gồm lời nói về sự thật, lời nói lịch sự, lời nói vui tai, lời nói cảm thông, khuyến khích tạo nên sự hiểu biết, hoà hợp trong sự thân thiện. Nó vừa mang tính đạo đức vừa mang tính kỷ năng giao tiếp. Dưới đây chúng ta tiếp tục khảo sát các khía cạnh của Ái ngữ.

II. Các khía cạnh của Ái ngữ

II.1 Lời nói chân thật

Ái ngữ không xuất hiện trong Bát chánh đạo hay Ba mươi bảy phẩm trợ đạo nhưng liên hệ đến lời nói chân thật th́ ư nghĩa của nó bao hàm cả chánh ngữ. Chúng ta có thể so sánh: Ái ngữ là lời nói chân thật (愛語謂實語等).[13] Chánh ngữ là lời nói chân chánh. Trong kinh Tư giải thích chi tiết chánh ngữ  gồm lời không nói dối, không nói lời chia rẻ, ác khẩu và lời thêu dệt:

Những ǵ là bốn nghiệp do miệng cố ư tạo bất thiện, đưa đến khổ quả, thọ lấy khổ báo? Một là nói dối; người kia hoặc ở giữa đám đông, hoặc trong quyến thuộc, hoặc ở tại vương gia, nếu có ai gọi mà hỏi rằng: ‘Ngươi có biết th́ nói’. Nhưng nó không biết mà nói là biết, biết nói là không biết; không thấy nói là thấy, thấy nói là không thấy. V́ ḿnh, v́ người, hoặc v́ của cải, biết rồi mà lại nói dối. Hai là nói hai lưỡi; muốn ly gián người khác nên nghe nơi người này đem nói với người kia v́ muốn phá hoại người này. Nghe nơi người kia đem nói với người này v́ muốn phá hoại người kia. Những kẻ hợp nhau th́ muốn tạo ly tán; những kẻ đă ly tán lại muốn cho xa rời để kết bè đảng, vui thích bè đảng, khen ngợi bè đảng. Ba là nói thô ác; người ấy nếu có nói năng ǵ th́ lời lẽ thô tục, hung bạo, tiếng dữ trái tai, không ai mến nổi, làm cho người khác phải khổ năo, khiến cho không được định tâm. Bốn là nói lời phù phiếm; người ấy nói không đúng lúc, nói không thành thật, nói lời không đúng nghĩa, nói lời không đúng pháp, nói không dẫn đến tịch tĩnh, lại c̣n khen ngợi sự không tịch tĩnh, trái ngược thời gian mà lại không khéo dạy dỗ, không khéo la mắng.” [14]

Do đó Đức Phật ví người nói lời chân thật như mặt đất có thể chấp nhận mọi thứ; như nước có thể rửa sạch mọi thứ; như lửa có thể đốt cháy mọi thứ; như một ngươi yêu thương tuổi thanh xuân tắm rửa sạch sẻ rồi mặc đồ trắng với ṿng trang sức quí giá.[15]

Tuy nhiên lời nói chân thật vẫn chưa đủ trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Nó đ̣i hỏi phải có cách nói phù hợp với hoàn cảnh thực tế của phong tục địa phương cũng như  tŕnh độ tiếp nhận của con người nơi ấy:

Sao gọi là ‘Tùy phong tục địa phương, không thị không phi’? Ở địa phương này, ở nhân gian này, sự kiện này hoặc được nói là ‘cái chậu’, hoặc nói là ‘cái khay’, hoặc nói là ‘cái ô’, hoặc nói là ‘cái chén’, hoặc nói là ‘đồ đạc’, và ở địa phương kia, nhân gian kia, sự kiện kia, hoặc nói là ‘cái chậu’, hoặc nói là ‘cái khay’, hoặc nói là ‘cái ô’, hoặc nói là ‘cái chén’, hoặc nói là ‘đồ đạc.’ Với sự việc này hay sự việc kia, không tùy khả năng,không nói với một mực rằng ‘Đây là sự thật, ngoài ra đều láo cả’, như vậy là tùy phong tục địa phương không nói thị không nói phi.” [16]

          Bên cạnh lời nói phù hợp với hoàn cảnh của phong tục địa phương, lời nói của một người cần phải đúng lúc. Nếu không như thế như lời nói hay quan điểm của người ấy không được chấp nhận, dù là người ấy nói lời chân thật của một bậc Thánh. Hơn nữa việc tôn trọng, chú ư lắng nghe người khác nói trước khi muốn nói cũng cần quan tâm như kinh Chi-ly-di-le ghi:

          Hiền giả nên biết, trong khi một số đông Tỳ-kheo đang thảo luận điều này có phải là pháp luật, điều này có phải là lời Phật dạy, Hiền giả chớ có dành nói nửa chừng. Đợi các Tỳ-kheo nói xong, nhiên hậu Hiền giả mới nói. Hiền giả hăy có thái độ cung kính và quán sát cẩn thận để thưa hỏi các bậc Tỳ-kheo Thượng tôn Trưởng lăo. Chớ đem sự không cung kính, không khéo quán sát để thưa hỏi các ngài.”[17]

          II.2 Lời nói nhân ái

Ái ngữ là lời nói của tấm ḷng nhân ái (愛語。即此仁愛也).[18] H́nh thức thể hiện tấm ḷng nhân ái thông qua ngôn ngữ được xem như là sức mạnh cho hoạt động độ sạnh của Đức Phật, như lời tán thán[19], lời từ chối khéo,[20] đối đáp,[21] phân tích,[22] huấn hối[23]  và Ngài cũng khuyên các đệ tử là mọi khổ đau trên cuộc đời có thể loại trừ qua sự áp dụng ba nguyên tắc của ḷng nhân ái: nói lời thân thiện, lời từ bi và lời tán thán những thành quả tốt đẹp của con người từ lúc bắt đầu, giữa và cuối.[24]

Nguyên tắc thứ nhất rất gần đến cách giải thích Ái ngữ nhiếp trong Thích Kinh Luận (釋經論):

Thế nào là Ái ngữ nhiếp? Nghĩa là lời nói vui thích, thú vị hay nói một điều ǵ đó với một nụ cười hàm tiếu, với gương mặt thư thản, có thể loại trừ cảm thọ tiêu cực của người khác. Những ǵ nói ra phải tạo cảm thọ tốt cho người khác như: “Thật là rất quí khi bạn đến thăm. Mọi thứ dễ chịu với bạn không? Bạn sống có thoải mái không? Bạn có đủ y phục, thực phẩm và hàng hoá hằng ngày không? Những lời chào đón, thăm hỏi này gọi là Ái ngữ…Nhiếp là bằng phương tiện Ái ngữ để ảnh hưởng người khác.”[25]

Cách giải thích này khiến cho chúng ta nghĩ tới qui cách ứng xử trong giao tế giữa con người và xă hội. Tuy chỉ là những lời nói mang tính cách thăm hỏi thông thường nhưng vẫn thể hiện được sự quan tâm lẫn nhau trong mối quan hệ cộng đồng. Đây chính là đầu mối của mọi sư liên kết. Nó tạo cho con người có cơ hội gặp gở, khuyến khích, trao đổi lẫn nhau những vẫn đề đă xảy ra có liên quan đến họ theo cách tốt nhất.

Nguyên tắc thứ hai liên quan đến từ bi. Thuật ngữ từ bi xuất hiện rất phổ biến trong Phật giáo. Nó được thể hiện chủ yếu qua thân khẩu ư. Trong phạm vi Ái ngữ, nó được thể hiện qua khẩu nghiệp. Thông qua khẩu nghiệp, tính chất Từ Bi được toát ra để mang lại niềm an vui và xua tan mọi khổ đau cho bản thân và người khác. Dĩ nhiên ở đây tâm sân nhuế đă vắng mặt: “Một khi đă trừ được sân nhuế th́ sau đó mới được từ tâm.”[26] Bên cạnh chức năng này nó c̣n có chức năng thông cảm, tha thứ, khoan dụng. Do đó Đức Phật khuyên chúng đệ tử cần phải suy nghĩ trước khi nói:

Nếu Tôi c̣n không thích bị người dối gạt, người khác cũng như thế. Vậy tại sao lại dối gạt người khác? Nếu tôi c̣n không thích người khác chia ĺa thân hữu tôi, người khác cũng như vậy. Vậy tại sao nay tôi lại chia ĺa thân hữu người khác? Nếu tôi c̣n không thích người khác nói lời thô ác, người khác cũng như thế. Vậy tại sao đối với người khác mà lại mạ nhục? Nếu Tôi c̣n không thích người nói lời thêu dệt, người khác cũng như thế. Vậy tại sao đối với người lại nói lời thêu dệt? Cho nên đối với người khác không nên nói lời dối gạt, ly gián, thêu dệt, ác khẩu.”[27]

Nguyên tắc thứ ba liên quan đến đức tính tuỳ hỷ, một trong những đức tính vị tha của con người. Người có đức tính này thường biểu lộ vui mừng khi thấy người được lợi hay khen ngợi cái đức của người khác.”[28] Lời khen ngợi hay tán thán đức tính tốt đẹp hoặc công hạnh tốt đẹp ở quá khứ hay hiện tại của một người sẽ dễ dàng gợi thiện cảm của họ khi khuyên họ nên từ bỏ điều bất thiện để thực hiện điều thiện.[29]

III. Giải Pháp cho vấn nạn gia đ́nh

Truyền thông là nhu cầu không thể thiếu đối với con người. Để thoả măn nhu cầu này, Ái ngữ như là một phương tiện để diễn tả những ǵ mà con người muốn nói. Với Ái ngữ, một người có thể nói ra điều ǵ đó từ trong tận đáy ḷng và đồng thời lời nói của người ấy cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hành động cảm xúc tích cực của người khác. Từ những khía cạnh tính cực của Ái ngữ như đă đề cập trên, chúng ta có thể t́m ra một số giải pháp cho vấn nạn gia đ́nh.

 

III.1 Không nói khi nóng giận

          Trong đời sống gia đ́nh, sự căng thẳng giữa các thành viên là điều không thể tránh khỏi. Để giảm bớt căng thẳng và đưa hai bên trở lại quan hệ b́nh thường, một khoảng thời gian ngắn im lặng rất cần thiết để sự căng thẳng đó lắng xuống tới một mức nào đó và nh́n nhận lại mọi việc rồi cùng trao đổi, xem xét lại vấn đề đă tạo ra sự căng thẳng.

III. 2 Không làm tổn thương phẩm hạnh của người khác

Ca dao có câu: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa ḷng nhau.” Câu ca dao rất là phổ biến trong đời sống của người dân Việt và vẫn c̣n nguyên giá trị của nó trong mối giao tiếp cộng đồng.Với sự chọn lọc lời nói trước khi khai khẩu, người nói sẽ không làm tổn thương đến ḷng tự trọng hay nhân phẩm của người khác trong khi tranh căi hay thảo luận một vấn đề nào trong gia đ́nh. Nếu không như thế, cho dù người nói có đúng đến đâu cũng không gặt được kết quả như mong muốn, tức phải trả một cái giá tổn thương vốn là một phần của những cuộc cải vă có người nói tham dự. Với cách nói Ái ngữ này, những bi kịch gia đ́nh dẫn đến tự tử sẽ không có điều kiện phát triển.

III.3 Biết đồng cảm khi nói

Đồng cảm khi nói sẽ giúp người muốn nói một điều ǵ đó phải đặt vị trí của ḿnh vào vị trí cũng như hoàn cảnh của người khác để hiểu những ǵ mà họ cần quan tâm. Từ đó người nói có thể tŕnh bày vấn đề của người nói như chính vấn đề của của đương sự. Với cách này th́ yếu tố hoà nhă, kính nhường, tuỳ thuận và hiểu biết lẫn nhau sẽ rất là sung măn trong mái ấm gia đ́nh.[30]

          III.4 Thông điệp của t́nh thương

          T́nh thương được thể qua lời nói có thể tạo nên niềm vui, niềm hạnh phúc, niềm tự tin và hy vọng cho các thành viên trong gia đ́nh. Lư tưởng của thông điệp t́nh thường là tự săn sóc bản thân và người khác[31] cũng như không làm tổn thương người khác[32] trong mối quan hệ gia đ́nh trong những trường hợp khó khăn hay không khó khăn. Như vậy thể hiện lời nói Ái ngữ không chỉ thể hiện t́nh thương yêu thắm thiết, tận xương, tận tuỷ của bậc làm cha mẹ mà c̣n là thể hiện mối quan tâm sâu sắc đến việc dạy dỗ tâm sinh lư, lối sống cho con cái.[33] Những đứa trẻ không được chăm sóc và dạy dỗ chu đáo sẽ có tâm lư lệch lạc, tự do ngang bướng, thậm chí bất cần.

III. 5 Tấm gương đạo đức

Những thành viên trong gia đ́nh có khuynh hướng bắt chước lẫn nhau. Nhất là con cái thường chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bố mẹ. Nếu như bố mẹ thường sử dụng những lời lẻ thô tục, chửi mắng, mạt sát, hiềm khích th́ con cái họ có khả năng lập lại những lời lẻ ấy ngay trong môi trường gia đ́nh. Chính cách xử sự này của bố mẹ cũng đă khiến con cái bị khủng hoảng tâm lư, tự ti, khó ḥa nhập, nhiều em trở nên hung hăn, ĺ lợm, xa lánh mọi người, căm ghét gia đ́nh và có khuynh hướng thoát ly gia đ́nh khi con cái đă nghĩ rằng bố mẹ và gia đ́nh không c̣n yêu thương, che chắn và bảo vệ ḿnh nữa. V́ thế việc sử dụng ngôn từ Ái ngữ của bố mẹ sẽ là một tấm gương để tạo cho con cái những điều kiện thuận lợi trong việc h́nh thành và phát triển nhân cách mà “không cần dùng dao, dùng gậy nhưng gia đ́nh vẫn được an ổn khoái lạc.”[34]

Tóm lại Ái ngữ rất có ư nghĩa thiết thực đối với đời sống của con người trong việc tạo dựng hạnh phúc gia đ́nh. Trong bài viết, người viết cũng chưa khái quát hết mọi khía cạnh của nó. Nhưng trong phạm vị các vấn nạn gia đ́nh, người viết hy vọng nếu như Ái ngữ được áp dụng rộng răi trong mỗi gia đ́nh th́ các vấn nan gia đ́nh mà hiện nay xă hội và thế giới đang quan tâm sẽ có nhiều cơ hội giảm xuống. Nhân dịp ngày Phật Đản trở về, người viết kính dâng thành quả này lên Đức Thế Tôn để thể hiện ḷng tôn kính và tri ân đến với Ngài. Kính nguyện cầu ánh đạo Từ Bi – Trí Tuệ toả khắp nhơn gian để thế giới hoà b́nh chúng sanh chung lợi lạc,.

                                               

Tỳ kheo THÍCH MINH THIỆN



[1] Flower of Ornament Scripture - A Translation of the Avatamsaka sutra, Tr. Thomas Cleary, Shambhala, 1993, Vol II, p. 22, 45, 51, 52, 38,447.; Stop and Seeing, Tr. Thomas Cleary, Boston&London: Shambhala, 1997, p. 68, 194.

[2] Trường A Hàm, kinh số 19, Trung A Hàm số 40, Tạp số 667, 668, 669,

[3] T. No. 1506

[4] Trung A Hàm số. 40, p. 483c; Tạp A Hàm số 667, 668, 669, p. 185a; T.26, p. 402c

[5] T.1, p. 51a, 229b; T2., p.834a; T.3., p.164b, 165a, 202c, 263b, 321a, 432a, 565b, 682a, 943a; T.8, p.354a, 571c, 654a, 720a, 826c, 834c, 836c, 841b,890a, 910a, 915b; T.9, p. 34c, 169b, 275c, 276c, 299a, 297b, 433c, 499c, 550a, 552b, 561c,574c, 640a, 664c, 672a, 680b, 695c, 712a, 776b;T.10, p. 73a, 135b, 186c, 208c, 309b, 395c, 506a,508b, 518a, 531c, 544a,770a, 853c, 860b, 941a; T.11, p. 89c, 183b, 313c, 321c, 413c, 474c, 486a, 495b, 563a, 599b, 600a, 632, 633a, 638b, 648c, 705c, 716b, 733b,748c, 835, 845a; T.12., p. 215c, 217c, 534c, 779c, 960a, 989b; T.13, p. 44a, 48a, 61a, 69b, 77a, 85b, 88a, 91c, 94c, 100b, 105ac, 113b, 115ac, 153a, 199a, 204a, 216b239b, 316c, 393a, 499a, 506c, 581c, 624a, 625ac634a, 635c, 682c, 701a, 718b, 722c, 738b; 948c; T. 39, p. 640c, 605a, 645a, 706a, 765c, 766a.

[6] T.85, p.1331.a; T.38, p. 323c “.”

[7] Trung A Hàm, số 135, Trg. 641c

[8] T.35, Trg..799.b ; T.22, trg.952.b

[9] T.13, Trg.203.c

[10] Sách đă dẫn

[11] T.53, Trg.883.b

[12] Tạp A Hàm, số 668, Trg.185a.

[13] T.35, p.799.b ; T.22, Trg. 952.b

[14] Trung A hàm , số 15, Trg. 437c.

[15] Trung A Hàm số 24, Trg. 453ab

[16] Trung A Hàm số 169, Trg. 703a.

[17] Trung A Hàm, số 82, Trg. 557b-558a.

[18] T.85, p.1331.a; T.38, Trg. 323c

[19] Tạp A Hàm, số 915, Trg. 231b

[20] Trường A Hàm, số 2, Trg, 20c

[21] Trương A Hàm, số 5, Trg. 36b-39a

[22] Trường A Hàm, số 8, Trg. 48ab

[23] Tăng Nhất A Hàm, XXIV.5, Trg. 622b

[24] Tạp A Hàm, số 915, Trg. 231b

[25] T. 26, Thích Kinh Luận (釋經論), Trg. 403.a

[26] Trường A Hàm, số 9, trg. 52a

[27] Tạp A Hàm, số, 1044, Trg. 273b

[28] Trường A Hàm, số 16, trg. 71a

[29] Tăng Nhất A Hàm, phẩm IV.1-10, Trg. 557a-558c; Tạp A Hàm, số 1065, Trg. 22c

[30] Trường A Hàm, số 16, Trg. 72c

[31] Trung A Hàm, số 2, Trg. 422.a

[32] Tạp A Hàm, số 1065, Trg. 22c

[33] Trường A Hàm, số 16, Trg. 71c

[34] Trung A Hàm, số 213, Trg. 679